Loading...

Cơ sở lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ

Chủ nhật - 08/07/2018 12:19
Vùng đất Tây Nam Bộ trước đây thuộc nước Phù Nam độc lập, từng bị Chân Lạp xâm chiếm nhưng Chân Lạp đã không khai phá và xác lập quyền cai quản thực tế, Người Việt từ lâu đã cùng với cư dân các tộc người Hoa, Khơme, Chăm khai phá và phát triên vùng đất này. Quá trình mở cõi, khai phá và xác lập chủ quyền thực tế của Nhà Nguyễn Việt Nam đối với Vùng đất Tây Nam Bộ là hoàn toàn hợp pháp.
Cơ sở lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ
Loading...
a) Miền Tây Nam Bộ được hình thành gắn với quá trình khai hóa đất hoang của người Việt và việc xác lập chủ quyền của nhà nước phong kiến Việt Nam cách đây hơn 300 năm
Trên cơ sở tổng hợp các kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học liên quan như sử học, khảo cổ học, dân tộc học, văn hoá học, luật học ở trong và ngoài nước, cuốn sách “Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Thế giới xuất bản năm 2006 đã trình bày một cách khách quan, có hệ thống và cô đọng những tư liệu, chứng cứ cơ bản về lịch sử phát triến vùng đất Nam Bộ với những nội dung cơ bản sau:

- Trước khi trở thành lãnh thổ của nước Việt Nam, vùng đất Nam Bộ nói chung, Miền Tây Nam Bộ nói riêng thuộc Vương quốc Phù Nam (một quốc gia bản địa, độc lập). Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVI Miền Tây Nam Bộ bị Vương quốc Chân Lạp (nhà nước đầu tiên của người Khơme) thôn tính, Vương quốc Phù Nam cũng bị diệt vong.

+ Phù Nam là một quốc gia cổ, ở Đông Nam Á, xuất hiện khoảng đầu Công nguyên, ở khu vực hạ lưu và châu thổ sông Mê Kông. Trong thời kỳ hưng thịnh, vương quốc này khá rộng lớn, về phía Đông, đã kiểm soát cả vùng đất phía Nam Trung Bộ của Việt Nam ngày nay, phía Tây đến thung lũng sông Mê Nam (Thái Lan), phía Nam đến phần phía Bắc bán đảo Mã Lai. Quốc gia này tồn tại đến khoảng nửa thế kỷ VII (sau năm 627) thì bị nước Chân Lạp tiêu diệt.

+ Chân Lạp trước kia vốn là nước thuộc quốc của Phù Nam (chư hầu, lệ thuộc), tồn tại trên phần phía Nam của bán đảo Đông Dương (là nhà nước của người Khơme, Campuchia ngày nay). Các vương quốc láng giềng xung quanh gồm Chăm Pa (Lâm Ấp) ở phía Đông, Phù Nam ở phía Nam và Dvaravati (thuộc Thái Lan ngày nay) ở về phía Tây bắc. Đến thế kỷ VI (khoảng năm 550), họ giành được độc lập, lập ra nước Chân Lạp và dần dần xâm chiếm được miền Bắc của Phù Nam, trong thế kỷ VII, Chân Lạp đã thôn tính toàn bộ Phù Nam.

+ Phù Nam và Chân Lạp là hai quốc gia độc lập. Các tư liệu trong thư tịchcổ Trung Quốc cũng phân biệt rất rõ Phù Nam với Chân Lạp (quốc gia của người Khơme). Sử ký của nhà Tùy (581-618) chép rằng nước Chân Lạp ở về phía Tây nam Lâm Ấp  (Chămpa), nguyên là một chư hầu cùa Phù Nam. Vua nước ấy là Ksatriya Citrasena đã đánh chiếm và tiêu diệt Phù Nam. Sử ký nhà Đường (618 -907) cũng chép: “Trong nước (Phù Nam) bấy giờ có thay đổi lớn. Nhà vua đóng đô ở thành Đặc Mục, thình lình bị nước Chân Lạp đánh chiếm, phải chạy trốn về miền Nam, trú ở thị trấn Na Phất Na” . Năm 627 Phù Nam còn tiến công nhà Đường lần cuối cùng, trước khi bị Chân Lạp tiêu diệt. (Những sự kiện được chép trên đây diễn ra vào đầu thế kỷ VII).

+ Hai nước Phù Nam và Chân Lạp có đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội khác nhau. Chân Lạp là quốc gia của người Khơme, xuất hiện ở vùng trung lưu sông Mê Kông, khu vực Biển Hồ , lấy nông nghiệp là nghề chính. Còn Phù Nam là một quốc gia ven biển có truyền thống hàng hải và thương nghiệp khá phát triển. Trong thời kỳ Phù Nam cường thịnh đã có nhiều nước nhỏ thần phục với tư cách là những thuộc quốc hoặc chư hầu, trong đó có Chân Lạp. Vào đầu thế kỷ VII, nhân lúc Phù Nam suy yếu, Chân Lạp đã đánh chiếm, Nhà nước Phù Nam bị diệt vong, lãnh thổ Phù Nam về tay Chân Lạp.
+ Phù Nam và Chân Lạp có nền văn hóa cổ khác nhau. Theo các số liệu khảo cổ học, các hiện vật tìm thấy ở di chỉ khảo cổ Óc-Eo (thuộc tỉnh An Giang)  đã chứng minh về sự tồn tại của một nền văn hóa cổ của người Phù Nam cách đây gần 2.000 năm, có trước nền văn minh Ăng Co của người Khơme mấy trăm năm. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tất cả những di tích thuộc văn hóa Óc-Eo đều là của người Phù Nam, khác biệt so với văn hóa Khơme.

+ Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XVI, Nam Bộ (kể cả Phù Nam) thuộc về Chân Lạp nhưng vùng đất này chưa có sự quản lý về mặt hành chính của Nhà nước Chân Lạp. Sau khi chiếm được Phù Nam, vùng đất này được gọi là Thủy Chân Lạp (vùng hạ, thấp, sông nước). Việc cai quản vùng lãnh thổ mới này đối với Chân Lập hết sức khó khăn vì đây là vùng đồng bằng mới bồi lấp, còn ngập nước và sình lầy, người Khơme với dân số ít ỏi, trình độ sản xuất manh mún, chưa thể tổ chức khai thác trên quy mô lớn. Hơn nữa, việc khai khẩn đất đai trên lãnh thổ của Lục Chân Lạp (vùng trên, cao, lụcđịa) đang đòi hỏi rất nhiều thời gian và sức lực. Do vậy, nước Chân Lạp dồn sức phát triển ở Lục Chân Lạp, nhất là các vùng trung tâm truyền thống ở khu vực Biển Hồ (Campuchia), trunglưu sông Mê Kông và bành trướng sang phía Tây. Nhờ đó, Chân Lạp trở thành một quốc gia cường thịnh, có nền văn minh Ăng Co rực rỡ, mở rộng lãnh thổ lên tận Nam Lào và đến cả khu vực sông Mê Nam (còn gọi là Chao Phaya, thuộc Thái Lan).

Do chiến tranh và phải tập trung công sức phát triển các trung tâm ở lục địa, sau gần 10 thế kỷ thuộc Chân Lạp, Nam Bộ nói chung, nhất là Miền Tây Nam Bộ nói riêng vẫn là một vùng đất hoang sơ.

+ Bắt đầu từ thế kỷ XIV, khi vương quốc Ayuthaya (vương quốc Xiêm)  hình thành, Chân Lạp phải lo đối phó với sự bành trướng của vương triều Xiêm từ phía Tây, kinh thành Ăng Co đã có lúc bị quân Xiêm chiếm đóng. Nội bộ mâu thuẫn, tranh giành quyên lực, Chân Lạp bước vào thời kỳ suy yếu.

-Từ thế kỷ XVI trở đi, Nam Bộ thuộc chủ quyền của nước ta.

+ Trong lịch sử, Nhà Nguyễn vốn có quan hệ bang giao rất tốt với triều đình Chân Lạp. Trong khi Chân Lạp không có điều kiện quản lý vùng đất phía Đông vốn thuộc nước Phù Nam trước đó (Nam Bộ ngày nay), nhiều cư dân người Việt đã vào vùng Mô Xoài, Đồng Nai (miền Đông Nam Bộ) khai khẩn đất hoang, lập làng sinh sống, sau đó phát triển đến các vùng đất phía Tây.

+ Năm 1623 chúa Nguyễn chính thức yêu cầu triều đình Chân Lạp để cho dân Việt mở rộng địa bàn khai phá trên những vùng đất thưa dân và để quản lý, chúa Nguyễn lập ở Pray Kor (vùng Sài Gòn ngày nay) một trạm thu thuế. Vua Chân Lạp đã chấp thuận đề nghị này .

+ Trong thời kỳ này sự thần phục của các nhóm di thần nhà Minh góp phần đẩy nhanh quá trình xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn trên lãnh thổ Nam Bộ. Năm 1671, một quan lại nhà Minh tên Mạc Cửu cùng với 400 người đổ bộ lên vùng đất hoang vu trong vịnh Thái Lan và xin thần phục vương triều Khơme. Năm 1681, vua Chân Lạp Jayajettha IV cho Mạc Cửu khai thác vùng đất dọc bờ biển phía Nam Campuchia, gọi là Căn Khẩu. Sau nhiều lần bị hải tặc Xiêm La đánh phá và không được vua Khơme hỗ trợ, Mạc Cửu xin thần phục chúa Nguyễn, vùng đất Căn Khẩu đổi tên thành Long Hồ dinh, sau này là Hà Tiên của Việt Nam .

Tháng 5/1735, Mạc Cửu mất, con của Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ đã tận tình giúp các vua Khơme đánh trả quân thù để bảo vệ ngôi báu, sau mỗi chiến công, các vua Khơme trao tặng đất đai để tưởng thưởng, nhờ đó mà đất đai bờ cõi ngày càng rộng mở.

Từ năm 1679 chúa Nguyễn Phúc Tần đã tạo điều kiện để nhóm Dương Ngạn Địch cùng nha môn, quân sĩ vùng Quảng Tây tổ chức khai phá và phát triến kinh tế vùng lưu vực sông Tiền Giang (Mỹ Tho); cho nhóm Trần Thượng Xuyên và những đồng hương Quảng Đông của ông chiêu dân tiếp tục mở mang vùng Biên Hòa - Đồng Nai. Trong vòng gần 20 năm, một vùng đất trải dài từ BàRịa đến sông Tiền Giang, vốn đã được cư dân Việt đến sinh cư lập nghiệp từ trước, nhanh chóng trở thành những trung tâm kinh tế quan trọng với nhiều làngmạc trù phú, phố phường sầm uất, hải cảng nhộn nhịp, có thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước khác tới giao lưu buôn bán.

+ Từ năm 1698, chủ quyền thực tế của Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ được xác lập: Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý vùng đất Nam Bộ và thiết lập đơn vị hành chính ở đây là phủ Gia Định, mở rộng đất đai, chiêu mộ dân di cư từ Bố Chánh (Quảng Bình) trở vào Nam, thành lập xã thôn, đặt chức Giám quân, Cai bộ và Ký lục để cai trị. Đó là sự xác lập quyền lực nhà nước, khẳng định chủ quyền trên thực tế của Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ.

+ Từ năm 1732 đến nãm 1775, do tình hình nội bộ phức tạp , các đời vua Chân Lạp đã nhiều lần tự nguyện cắt đất trao cho Chúa Nguyễn để đền ơn dẹp loạn, cứu giúp lúc hoạn nạn và giành lại ngôi vua. Đáng lưu ý là vào năm 1757, Vua Nặc Tôn đã cắt vùng đất Tầm Phong Long (tương đương vùng Tứ giác Long Xuyên ngày nay ) cho chúa Nguyễn . Năm 1759, toàn bộ lãnh thổ đồng bằng sông Cửu Long chỉnh thức được sáp nhập vào lãnh thổ của nhà Nguyễn. Đến đây quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ nói chung, Miền Tây Nam Bộ nói riêng cơ bản hoàn thành.

- Thế kỷ XVII - XVIII, Nhà Nguyễn tiếp tục lập ra các đơn vị hành chính, bố trí quan lại, lập sổ sách quản lý dân cư, đất đai và định ra các loại thuế. Sau năm 1744, vùng đất Nam Bộ được chia thành 4 dinh (ở miền Đông có dinh Trấn Biên, Phiên Trân, ở miền Tây có dinh Long Hồ, Hà Tiên).

- Dưới triều Nguyễn, hệ thống hành chính tiếp tục được hoàn thiện và thống nhất quản lý trên quy mô cả nước. Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập sổ địa bạ toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ (trong đó: 3 tỉnh miền Đông gồm Phiên An, Biên Hòa, Định Tường và 3 tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên; trong đó có tất cả 10 phủ, 25 huyện, 135 tổng với 1.637 xã, thôn, phường).

- Để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đối với vùng đất phía Nam, triều Nguyễn đã lãnh đạo nhân dân đánh bại các cuộc tiến công của quân Xiêm vào các năm 1715, 1771... Năm 1785, anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ đã đánh tan cuộc xâm lược của quân Xiêm trongtrận Rạch Gầm - Xoài Mút (Tiền Giang ngày nay). Triều Nguyễn cũng cho xây dựng hệ thống các đồn lũy để trấn thủ biên giới.

- Thời Pháp thuộc, 6 tỉnh Nam Kỳ, trong đó có 3 tỉnh Miền Tây Nam Bộ do thực dân Pháp cai quản, đến năm 1949 thì giao trả cho Quốc gia Việt Nam .

- Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc đấu tranh của nhân dân Miền Tây Nam Bộ, trong đó có dân tộc Khơme tiếp tục phát triển, cùng cả nước làm nên cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.

- Thắng lợi vẻ vang của hai cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc xâm lược và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam đã khẳng định quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, lòng dũng cảm, kiên định, sự hy sinh xương máu của nhân dân ta đê bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, trong đó có Miền Tây Nam Bộ.

b) Lịch sử hình thành cộng đồng cư dân trên vùng đất Tây Nam Bộ
- Miền Tây Nam Bộ hiện nay có nhiều tộc người sinh sống, trong đó có 4 dân tộc chiếm tỉ lệ dân số cao là: người Việt (người Kinh); người Khơme, người Hoa, người Chăm. Ngoài ra còn một số tộc người có số lượng ít như Tày, Nùng, Ngái, Mnông, Striêng, Mường, Chơ ro, Châu mạ, K’ho...

Trong quá trình phát triển, cộng đồng cư dân Miền Tây Nam Bộ, bao gồm những người bản địa đã có mặt từ trước và lưu dân từ nơi khác đến, đã cùng nhau khai khẩn đất hoang, đoàn kết, chống lại thú dữ, thiên tai để sinh tồn.

Theo các tài liệu sử học, khảo cổ, địa lý..., từ khoảng 500 năm trước Công nguyên, đồng bằng châu thổ sông Cửu Long đã được nổi lên trên mặt nước biển. Thông qua di chỉ Óc-Eo - Ba Thê, con người từng có mặt ở nơi đây vào đầu Công nguyên nhưng do chưa đủ sức chống chọi thiên nhiên để tồn tại và phát trển nên nền văn hóa Óc-Eo chỉ tồn tại trong thời gian ngắn rồi biến mất. Từ thế kỷ X trở đi, do biển rút dần, nhũng vùng đất ở Đồng Tháp Mười, Sóc Trăng, Trà Vinh, Trà Cú... đã nổi lên thành những vùng đất màu mỡ.

- Người Khơme có mặt ở Miền Tây Nam Bộ từ rất sớm nhưng số lượng ít, sông rải rác ở một số rẻo đất hoang vừa được khai phá, có tính biệt lập, chưa quốc gia nào thiết lập quan hệ quản lý hành chính đối với họ. Ban đầu chỉ là một số người nông dân Khơme nghèo muốn thoát khỏi áp bức, bóc lột của chế độ “Ăng Co”, họ từ từ di cư đến Miền Tây Nam Bộ. Nhưng càng về sau, nhất là từ thế kỷ XV trở đi, Campuchia rơi vào nội chiến và bị quân Xiêm (Thái Lan) đánh phá liên tục, dòngngười di cư xuống đồng bằng sông Cửu Long ngày càng đông. Tuy nhiên, cho đến giữa thế kỷ XIX, người Khơme ở Nam Bộ cũng chỉ có 146.718 người. Hiện nay, có trên 1,2 triệu người Khơme sinh sống ở Miền Tây Nam Bộ, tập trung nhất là ở các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau.

Người Khơme ở đây chủ yếu sống bằng nghề nông. Sản xuất nông nghiệp của người Khơme mang tính chất độc canh, chủ yếu là trồng lúa, vốn là một nền sản xuất nhỏ, mang tính tự cấp, tự túc. Đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn.

Theo số liệu của Ủy ban Dân tộc miền núi, hiện nay cả vùng Khơme Tây Nam Bộ mới chỉ có 12,7% số hộ có nhà kiên cố, 59% nhà tre lá lụp sụp.

Hầu hết người Khơme theo đạo Phật. Trong mỗi phum, sóc  đều có 1 đến 2 ngôi chùa làm nơi sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa cộng đồng. Đạo phật có ảnh hưởng lớn trong xã hội, tầng lớp sư, sãi có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội, văn hóa của người Khơme ở Miền Tây Nam Bộ.

Người Khơme có truyền thống yêu nước, đoàn kết với các dân tộc anh emtrong vùng, đã góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tình đoàn kết giữa người Khơme và người Việt cũng như các dân tộc anh em ngày càng gắn bó thủy chung. Tuy nhiên, bên cạnh truyền thống tốt đẹp, một số nơi trong vùng dân tộc Khơme vẫn còn có biểu hiện mâu thuẫn, kỳ thị giữa người Khơme và người Việt vì nhiều nguyên nhân do lịch sử để lại. Các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách lợi dụng, kích động làm cho vấn đề dân tộc ngày càng phức tạp.

-Người Hoa bắt đầu di cư đến vùng đất Tây Nam Bộ vào thế kỷ XVII- XVIII: Năm 1671, Mạc Cửu cùng với 400 người Hoa lánh nạn sang khai phá vùng đất Hà Tiên, sau đó mở rộng ra Phú Quốc, Rạch Giá, Cà Mau. Sau khi Mạc Cửu xin thần phục, nhà Nguyễn phong Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên, cho xây dựng thành lũy, mở mang phố xá, dân cư nhiều nơi khác đến, Hà Tiên trở thành đô thị sầm uất. Vào năm 1769, khoảng 5000 quan, quận nhà Minh không chịu thần phục Mãn Thanh đã vượt biển vào cảng Đà Nẵng xin hàng chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Tần cho số này lập nghiệp tại Biên Hòa (Đồng Nai) và Mỹ Tho (Tiền Giang) làm cho Nam Bộ ngày càng thịnh vượng.

Hiện nay, người Hoa ở Miền Tây Nam Bộ có gần 200.000 người, chiếm khoảng 1,24% dân số toàn vùng Tây Nam Bộ và chiếm khoảng 23,2% dân số người Hoa trong toàn quốc. Họ sống tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Bạc Liêu, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long, Cà Mau...

Trên vùng đất Tây Nam Bộ, người Hoa sống hoà đồng với các dân tộc khác; với nghề buôn bán là chủ yếu. Người Hoa rất có ý thức và năng lực kinh doanh, thương mại, chịu khó làm lụng, ít quan tâm đến chính trị. Họ ít tham gia các hoạt động của cộng đồng chung, song tính cộng đồng trong nội bộ người Hoa rất cao. Các hội tương trợ của các dòng họ người Hoa liên kết lại thành các tổ chức chặt chẽ, có quy mô lớn và hoạt động rất hiệu quả.

Ngoài tín ngưỡng thờ các vị thần khác nhau, người Hoa còn theo đạo Phật. Bên cạnh những nét đặc sắc trong phong tục tập quán, thể hiện qua thờ tự, nghi thức hành lệ, tín đồ người Hoa cũng lập Hội Phật học lấy tên là Minh nguyệt cư sĩ Lâm Phật học hội. Tổ chức này có mặt tại nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp... Đây là hình thức tương trợ, động viên nhau rất hiệu quả trong cộng đồng người Hoa.

-Người Chăm ở Tây Nam Bộ còn gọi là người Chàm, người Chiêm, dân Chiêm Thành, người Hời, có nguồn gốc xuất xứ từ miền Trung Trung Bộ,nguyên là cư dân nước Chămpa . Vào thế kỷ XIV - XV, một bộ phận người Chăm ở Ninh Thuận di cư đi nhiều nơi, sau đó về tụ cư thành từng làng (Palay) dọc theo sông Hậu, trên các cù lao thuộc các huyện Phú Châu, Phú Tân, Châu Phú, tỉnh An Giang vào nửa đầu thế kỷ XIX. Nhóm cộng đồng Chăm cùng theo đạo Hồi (Islam), mộttôn giáo du nhập từ bên ngoài vào Nam Bộ. Trong vùng đất Tây Nam Bộ, đa số người Chăm sống ở An Giang, hiện có trên 14.200 người, hầu hết đều cư trú giáp biên giới Campuchia.

-Người Việt có công lớn nhất trong quá trình chinh phục đồng bằng sông Cửu Long, hình thành vùng đât Tây Nam Bộ. Cũng như người Khơme, người Hoa, đầu tiên người Việt đến đây cũng vì lý do lánh nạn chiến tranh, áp bức bóc lột nặng nề. Họ đi khai phá đất hoang và chung sống hòa bình với người Khơme.

Ngoài những cư dân đã có mặt từ trước, từ cuối thế kỷ XVI, nhất là thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX người Việt ở miền Trung, miền Bắc đã di cư vào Nam Bộ. Ban đầu người Việt đến ngụ cư ở Mũi Xuy (Bà Rịa), Bàn Lân (Biên Hòa), sau đó phát triển đến các khu vực Bến Nghé, Sài Gòn, rồi Vĩnh Long, Hà Tiên... Trước khi Mạc Cửu cùng họ hàng đến Hà Tiên, từ năm 1665, một số người Việt ở Phnom Penh cũng đã chạy về Hà Tiên và Phú Quốc để khai khẩn đất đai, tìm nơi cư trú.

Từ khi nhà Nguyễn thực thi chính sách khai phá đất đai, mở cõi, lập hệ thống chính quyên cai trị, làn sóng người Việt di cư vào Nam ngày càng đông đúc, trở thành chủ nhân chính trong cộng đồng dân cư Nam Bộ nói chung, Miền Tây Nam Bộ nói riêng. Hiện nay, người Việt chiếm 93% dân số các tỉnh, thành Miền Tây Nam Bộ.

Quan hệ tộc người ở Tây Nam Bộ đã được thiết lập lâu bền trong lịch sử bởi những người nông dân nghèo từ nhiều nơi khác đến để tìm kế sinh nhai, ở đây đã diễn ra quá trình hòa hợp, hội nhập giữa người Việt và các tộc người thiểu số trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Đó cũng là xuhướng chủ đạo, xuyên suốt tiến trình hình thành và phát triển vùng đất Tây Nam Bộ và cộng đồng cư dân nơi đây. Do vậy, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều mang dấu ấn của người Việt với tư cách là dân tộc chiếm đa số, chủ nhân chính, trung tâm đoàn kết cộng đồng các dân tộc trên vùng đất Tây Nam Bộ.

Trải quahơn ba thế kỷ với biết bao thăng trầm của lịch sử, nhiều thế hệ người Việt Nam (với ý nghĩa cộng đồng cư dân đa dân tộc) đã đổ biết bao công sức để dựng xây và bảo vệ vùng đất Tây Nam Bộ. Mỗi tấc đất nơi đây đều thấm đẫm mồ hôi và máu củangười dân đất Việt. Chính vì thế mà đối với mỗi người dân Việt Nam, Nam Bộ nói chung, Miền Tây Nam Bộ nói riêng không đơn thuần chỉ là vấn đề chủ quyền lãnh thổ mà cao hơn thế, còn là vùng đất của những giá trị thiêng liêng, trường tồn cùng dân tộc.

Như vậy, chủ quyền của Việt Nam đối với Miền Tây Nam Bộ nói riêng và Nam Bộ nói chung đã được khẳng định từ rất sớm bằng sự xuất hiện của người Việt, là chủ nhân chính khai hóa một cách hòa bình các vùng đất còn hoang sơvốn thuộc nước Phù Nam đã bị diệt vong; đồng thời bằng việc xác lập quyền quản lý hành chính liên tục, trên thực tế của Nhà Nguyễn kể từ năm 1698.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động cho rằng vùng đất Nam Bộ nói chung, Miền Tây Nam Bộ nói riêng từ xưa vốn thuộc lãnh thổ của người Khơme - Campuchia, bị thực dân Pháp xâm chiếm rồi giao cho Việt Nam. Lập luận chủ yếu, mà không có căn cứ khoa học của quan niệm này là đồng nhất nước Phù Nam ở trung tâm của vùng hạ lưu sông Mê Kông với nhà nước đầu tiên của người Khơme (nước Chân Lạp trước đây). Thực tế lịch sử cho thấy: Vùng đất Tây Nam Bộ trước đây thuộc nước Phù Nam độc lập, từng bị Chân Lạp xâm chiếm nhưng Chân Lạp đã không khai phá và xác lập quyền cai quản thực tế, Người Việt từ lâu đã cùng với cư dân các tộc người Hoa, Khơme, Chăm khai phá và phát triên vùng đất này. Quá trình mở cõi, khai phá và xác lập chủ quyền thực tế của Nhà Nguyễn Việt Nam đối với Vùng đất Tây Nam Bộ là hoàn toàn hợp pháp.
Loading...

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Loading...
THÀNH VIÊN
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây