1. Khởi nghĩa Bắc Sơn (27 - 9 - 1940)
- Ngày 22/9/1940, Nhật đánh úp Lạng Sơn, Pháp thua rút chạy qua Châu Bắc Sơn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương nhân dân đã vùng dậy tước vũ khí của Pháp tự vũ trang cho mình, giải tán chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng (27/9/1940)
- Mấy hôm sau Nhật - Pháp thỏa hiệp với nhau. Pháp tập trung lực lượng đàn áp nhân dân Bắc Sơn rất dã man.
- Từ 27/9 đến 20/10/1940, đới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, nhân dân Bắc Sơn đấu tranh chống khủng bố, trừng trị bọn tay sai địch, tịch thu tài sản của đế quốc và tay sai chia đều cho dân nghèo, đồng thời thành lập đội du kích Đắc Sơn.
- Ngày 20/10/1940, Pháp củng cố lực lượng tấn công và đàn áp cách mạng, đánh úp Vũ Lăng. Đội du kích Bắc Sơn rút vào rừng tiếp tục hoạt động. Đây là lực lượng vũ trang đầu tiên của ta.
2. Khởi nghĩa Nam Kỳ (23 -11 -1940)
Quân Thái Lan với sự đỡ của Nhật. Lợi dụng cơ hội quản Pháp bại trận ở châu Âu và yếu thế ở Đông Dương, tiến hành khiêu khích xung đột biên giới Lào, Campuchia. Để chống lại, thực dân Pháp bắt lính người Việt ra mặt trận chết thay cho chúng. Nhân dân, nhất là binh lính người Việt rất bất bình và sôi sục khí thế đấu tranh.
Tình thế cấp bách nên Đảng bộ Nam Kỳ phải quyết định khởi nghĩa tuy chưa có sự chuẩn bị, lệnh đỉnh chỉ khởi nghĩa của Đảng ngoài Bắc vào chậm. Trước ngày khởi sự, một số cán bộ chỉ huy bị bắt, kế hoạch khởi nghĩa bị lộ, thực dân Pháp tìm cách đối phó.
Tuy vậy, khởi nghĩa vẫn nổ ra theo sự dự kiến vào đêm 22 rạng sáng ngày 23/11/1940 ở hầu hết các tỉnh Nam Kỳ. Nghĩa quân triệt hạ nhiều đồn bốt giặc, phá tan nhiều chính quyền địch, thành lập chính quyền nhân dân và tòa án cách mạng ở nhiều địa phương. Cố đô sao vàng lần đầu tiên xuất hiện từ trong khởi nghĩa quần chúng.
Thực dân Pháp dùng nhiều thủ đoạn đàn áp dã man các cuộc khởi nghĩa. Chúng bắt đi đày hàng nghìn chiến sĩ yêu nước, xử bắn một số chiến sĩ ưu tú của Đảng bị bắt trước cuộc khởi nghĩa: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai.
Cơ sở Đảng bị tổn thất nặng, một số cán bộ và nghĩa quân bí mật rút vào rừng, chấn chỉnh đội ngũ chờ cơ hội hoạt động trở lại.
3. Binh biến Đô Lương (13- 01 -1941)
Phong trào cách mạng của quần chúng đã ảnh hưởng đến tinh thần của binh lính người Việt trong quân đội Pháp. Tại Nghệ An, binh lính rất bất bình vì bị bốt sang Lào làm bia đỡ đạn cho Pháp chống Thái Lan.
Ngày 13/01/1941 dưới sự lãnh đạo của đội Cung (Nguyễn Văn Cung), binh lính kéo đến chợ Rạng (Đô Lương-Nghệ An) nổi dậy. Tối hôm đó, họ đánh chiếm đồn Đô Lương rồi định kéo về Vinh nhưng kế hoạch không thành. Đội Cung bị thực dân Pháp bắt và xử tử cùng 10 đồng chí của ông ta tại Vinh. Nhiều người khác bị kết án khổ sai và đem đi đày.
4. Ý nghĩa của hai sự kiện trên
Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và cuộc binh biến Đô Lương cuối cùng bị thất bại, do thực dân Pháp lúc đó còn mạnh, khởi nghĩa nổ ra chưa chín muồi, chưa đúng thời cơ. Mặc dầu bị thất bại, song hai sự kiện trên đã:
- Nói lên lòng yêu nước nồng nàn, thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất vì độc lập tự do của dân tộc ta.
- Giáng một đòn chí tử vào thực Pháp, cảnh cáo nghiêm khắc phát xít Nhật vừa mới đặt chân lên đất nước ta. “Đó là những tiếng súng báo hiệu của cuộc khởi nghĩa toàn quốc”.
- Để lại cho cách mạng nhiều bài học kinh nghiệm quí giá, nhất bài học về thời cơ khởi nghĩa. Riêng khởi nghĩa Bắc Sơn để lại cho cách mạng đội du kích Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ để lại cho cách mạng lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, sau này trở thành quốc kỳ - một biểu tượng thiêng liêng của đất nước.
Trung ương Đảng đã nhận định về ba cuộc khởi nghĩa vũ trang này như sau:
“Những cuộc khởi nghĩa lại gây một ảnh hưởng rộng lớn toàn quốc. Đó là những tiếng súng báo hiệu cho khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng vũ lực của các dân tộc Đông Dương.