© 2020 Bài Kiểm Tra.com. All Rights Reserved.

Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử

Thứ hai - 19/10/2026 08:56
Vườn quốc gia Tràm Chim là một khu đất ngập nước thuộc tỉnh Đồng Tháp, Việt Nam.
Bài mẫu 1:
Nhắc đến di sản văn hóa Chăm Pa, không thể không nhắc đến Thánh địa Mỹ Sơn, một quần thể di tích đền tháp độc đáo tọa lạc tại xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào năm 1999, Mỹ Sơn là điểm đến thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước bởi giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc đặc sắc.Khám Phá Di Tích

Mỹ Sơn được xây dựng từ thế kỷ IV dưới triều đại vua Bhadravarman I, trải qua hơn 10 thế kỷ phát triển và trở thành trung tâm tôn giáo, chính trị và văn hóa quan trọng của vương quốc Chăm Pa. Đến thế kỷ XV, do chiến tranh và sự xâm lấn của Đại Việt, vương quốc Chăm Pa suy yếu, Mỹ Sơn cũng dần bị bỏ hoang và rơi vào quên lãng.

Quần thể di tích gồm hơn 70 đền tháp được xây dựng theo phong cách kiến trúc Chăm Pa độc đáo, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố Ấn Độ giáo và bản sắc văn hóa Chăm. Các đền tháp được xây dựng bằng gạch nung, xếp chồng lên nhau theo từng tầng, tạo nên hình dáng uy nghi, tráng lệ.

 Mỹ Sơn là minh chứng cho sự phát triển rực rỡ của văn hóa Chăm Pa trong suốt hơn 10 thế kỷ. Nơi đây lưu giữ những giá trị lịch sử quý giá về triều đại, tín ngưỡng, phong tục tập quán và đời sống tinh thần của người Chăm Pa.

Các đền tháp tại Mỹ Sơn được trang trí với nhiều hoa văn, tượng điêu khắc tinh xảo, thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan của người Chăm Pa. Nơi đây cũng là nơi diễn ra các nghi lễ tôn giáo quan trọng, thể hiện niềm tin và lòng thành kính của người Chăm Pa đối với các vị thần.

Kiến trúc Chăm Pa tại Mỹ Sơn mang đậm dấu ấn Ấn Độ giáo nhưng cũng có những nét độc đáo riêng. Các đền tháp được xây dựng theo dạng tháp nhọn, cao vút, tượng trưng cho sự kết nối giữa con người với thế giới thần linh.

Sau khi được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới, Mỹ Sơn đã được chính quyền địa phương và các tổ chức quốc tế chung tay bảo tồn và trùng tu. Tuy nhiên, do tác động của thời gian và thiên tai, nhiều đền tháp vẫn đang trong tình trạng xuống cấp.

Mỹ Sơn là điểm đến du lịch hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Nơi đây thường xuyên tổ chức các hoạt động lễ hội, biểu diễn văn nghệ và giới thiệu văn hóa Chăm Pa nhằm thu hút du khách và giáo dục thế hệ trẻ về giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Thánh địa Mỹ Sơn là một di sản văn hóa vô giá của Việt Nam, là niềm tự hào của người dân Quảng Nam và cả dân tộc. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của Mỹ Sơn góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời thúc đẩy ngành du lịch địa phương và quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam đến bạn bè quốc tế.Đọc Mẹo Du Lịch

Bài mẫu 2: 
Vườn quốc gia Tràm Chim là một khu đất ngập nước thuộc tỉnh Đồng Tháp, Việt Nam. Nơi đây được mệnh danh là "vương quốc chim" với hệ sinh thái đa dạng và phong phú, là nơi sinh sống của hơn 200 loài chim nước, trong đó có nhiều loài quý hiếm như sếu đầu đỏ, cò ma, bồ nông,... Vườn quốc gia Tràm Chim còn là khu Ramsar quan trọng thứ 20 của thế giới.

Vườn quốc gia Tràm Chim nằm ở huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, cách thành phố Cao Lãnh khoảng 20 km về phía tây bắc. Vườn quốc gia Tràm Chim có diện tích 7.612 ha, trong đó có 5.822 ha là vùng lõi và 1.790 ha là vùng đệm. 

Nơi đây có hệ sinh thái đa dạng và phong phú, bao gồm rừng tràm, đồng cỏ, kênh rạch, và hồ nước. Nơi đây là nơi sinh sống của hơn 200 loài chim nước, trong đó có nhiều loài quý hiếm như sếu đầu đỏ, cò ma, bồ nông,... Vườn quốc gia Tràm Chim còn là nơi sinh sống của nhiều loài động vật khác như lợn rừng, rắn, rùa, cá,...

Vườn quốc gia Tràm Chim có giá trị rất lớn về mặt sinh thái, khoa học, và du lịch. Nơi đây là khu Ramsar quan trọng thứ 20 của thế giới, là khu dự trữ sinh quyển thế giới và là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Vườn quốc gia Tràm Chim còn là điểm đến du lịch hấp dẫn, thu hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu, và trải nghiệm.

Đến với vườn quốc gia này, chúng ta có thể trải nghiệm nhiều hoạt động du lịch hấp dẫn như tham quan rừng tràm bằng xuồng ba lá, ngắm chim, câu cá, nghiên cứu khoa học,... Du khách đến với Vườn quốc gia Tràm Chim sẽ có cơ hội được hòa mình vào thiên nhiên hoang sơ, tìm hiểu về hệ sinh thái đa dạng và phong phú, và trải nghiệm cuộc sống của người dân địa phương.

Tuy vậy, vườn quốc gia Tràm Chim đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ như phá rừng, khai thác quá mức, ô nhiễm môi trường,... Do đó, cần có những biện pháp bảo vệ và quản lý hiệu quả để bảo tồn giá trị của Vườn quốc gia Tràm Chim cho thế hệ mai sau.

Bài mẫu 3: 
Nằm bên bờ sông Hương thơ mộng, Huế từng là kinh đô của Việt Nam dưới triều Nguyễn trong suốt 130 năm (từ năm 1802 đến năm 1945). Nơi đây lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc độc đáo, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Và khi đến Huế, chúng ta không thể bỏ qua một địa điểm tham quan rất nổi tiếng, đó là quần thể di tích Cố đô Huế, một di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận vào năm 1993.

Năm 1802, vua Gia Long chọn Huế làm kinh đô của nước Đại Nam. Sau đó, ông cho xây dựng kinh thành Huế với quy mô hoành tráng, bao gồm Đại Nội, Kinh thành và Ngoại ô. Dưới triều Nguyễn, Huế là trung tâm chính trị, văn hóa, giáo dục và khoa học kỹ thuật của Việt Nam. Đến năm 1993, quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới.Khám Phá Di Tích

Quần thể di tích Cố đô Huế được xây dựng theo phong cách kiến trúc cung đình Huế độc đáo, kết hợp hài hòa giữa kiến trúc truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng của kiến trúc Trung Hoa. Các công trình kiến trúc tại đây đều được xây dựng với quy mô hoành tráng, tinh xảo và mang đậm dấu ấn lịch sử. Có thể kể đến Đại nội - nơi ở và làm việc của vua chúa triều Nguyễn, bao gồm nhiều cung điện, điện thờ và lầu đài; chùa Thiên Mụ - ngôi chùa cổ kính nằm bên bờ sông Hương, là một trong những biểu tượng của thành phố Huế;...

Quần thể di tích Cố đô Huế là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, là một di sản văn hóa vô giá cần được bảo tồn và phát huy. Nơi đây là điểm đến du lịch hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Mỗi người dân Việt Nam cần chung tay bảo vệ và phát huy giá trị của Quần thể di tích Cố đô Huế. Hãy giới thiệu di sản này cho bạn bè quốc tế để họ hiểu biết thêm về văn hóa và lịch sử Việt Nam.

Mỗi người dân Việt Nam cần chung tay bảo vệ và phát huy giá trị của Quần thể di tích Cố đô Huế. Hãy giới thiệu di sản này cho bạn bè quốc tế để họ hiểu biết thêm về văn hóa và lịch sử Việt Nam.

Bài mẫu 4:
Thuyết minh Hồ Ba Bể
Hồ Ba Bể nằm trên địa bàn xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn cách Hà Nội hơn 200km về phía Bắc. Từ thành phố Bắc Kạn đi Hồ Ba Bể khoảng 70km về phía Tây Bắc. Hồ Ba Bể được hợp thành từ 03 hồ có tên là Pé Lèng, Pé Lù và Pé Lầm; là nơi hội tụ của 3 dòng sông là Sông Năng, Tả Hàn và Nam Cường; hồ có chiều dài hơn 8km, nơi rộng nhất là 2km, diện tích mặt nước là 500 ha, độ sâu trung bình là 20m, nơi sâu nhất là 35m, chứa khoảng 90 triệu m3 nước; trên hồ có nhiều hòn đảo nhỏ xinh đẹp như Đảo Bà góa, đảo Phong Lan, đảo An Mạ, ao Tiên… đáy hồ không bằng phẳng mà có nhiều núi ngầm, nhiều loài thuỷ vật và cá nước ngọt sinh sống có những loài đặc biệt quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam như cá chép kính, cá dầm xanh, cá chiên... Hồ Ba Bể là một kỳ quan thiên nhiên tuyệt đẹp, là nơi lý tưởng cho du khách đến tham quan và trải nghiệm. Họckhoa học

Theo truyền thuyết: Hồ Ba Bể xưa kia vốn là vùng đất đai trù phú, dân cư đông đúc, mùa màng bội thu, muông thú đua nhau tụ họp, ca hát líu lo, cuộc sống rất đỗi thanh bình. Đầu xuân năm ấy dân làng mở hội lồng tồng để vui chơi ca hát; ở trên trời, thấy cảnh trần gian tấp nập vui vẻ, Bụt liền hóa phép để thử lòng dân. Trời về chiều, hội sắp tan, bỗng nhiên mọi người thấy một con bò lạ, lông vàng óng, rất đẹp xuất hiện, thấy bò không có chủ, nhân lúc đói bụng, đám người xấu trong bản bèn rủ nhau bắt bò vàng làm thịt, họ đốt một đống rơm to thui bò vàng, sau đó cả bản chia nhau ăn uống linh đình, chỉ vắng mẹ con Bà góa nghèo ở cuối bản vì không có quần áo đẹp đi dự hội, được chúng mang đến chia cho ít da và cái đuôi bò, bà lão mang treo trên gác bếp. Hôm sau, có một Bà già ăn mặc rách dưới đến bản xin ăn, Bà đi đến đâu những con rận và rệp rơi lả tả đến đó khiến ai nhìn thấy cũng lắc đầu và chạy xa, vào đến bản bà lão đi từng nhà hỏi có ai thấy con bò đẹp màu vàng của mình bị mất hôm qua đâu không, ai cũng trả lời rằng không biết, cứ thế bà lão đi khắp bản hỏi cho đến tối cũng không tìm được bò vàng, mệt quá bà xin dân bản cho mình nghỉ nhờ, nhưng ai cũng xua đuổi và không cho bà ở, đi mãi tới tận cuối bản, gặp hai mẹ con Bà góa nghèo, vốn tính thương người, Bà góa mời Bà lão về căn lều của mình nghỉ tạm qua đêm. Đêm ấy chờ con ngủ say, Bà góa kể cho Bà lão nghe mọi chuyện về con bò vàng bị lạc và chỉ cho Bà lão chiếc đuôi bò còn treo trên gác bếp. Sớm hôm sau tỉnh dậy, trước lúc chia tay, Bà lão nói với hai mẹ con Bà góa: Ta không phải đến đây để hỏi chuyện mất bò, đó chẳng qua chỉ là việc thử lòng người mà thôi, cảm ơn hai mẹ con Bà có tấm lòng nhân hậu, đêm nay trước khi đi ngủ Bà nhớ rắc trấu xung quanh nhà cho cẩn thận và trong lúc nguy nan hãy thả vỏ trấu xuống nước sẽ làm được việc có ích. Nói xong bà lão biến mất. Mãi đến lúc đó, mẹ con Bà góa mới bàng hoàng hiểu ra sự việc. Tối đến, trước khi đi ngủ, hai mẹ con cẩn thận làm theo lời dặn của bà lão ăn mày. Đến nửa đêm, sấm chớp nổi lên ầm ầm, mưa như trút nước, mặt đất rung chuyển và sụt xuống, nước ngập mênh mông thành hồ, cả vùng duy nhất chỉ có nhà của mẹ con Bà góa là còn nguyên vẹn nhô lên giữa mặt nước. Thấy dân bản chết đuối nhiều quá, nhớ lời dặn của bà lão, mẹ con Bà góa ném vỏ trấu xuống nước, tức thì vỏ trấu hóa thành những chiếc thuyền độc mộc, hai mẹ con vội vã chia làm hai ngả đi cứu giúp dân bản. Kể từ đó thuyền độc mộc trở thành phương tiện chính trên sông nước của người dân vùng Hồ.

Nằm ở độ cao 150m so với mực nước biển, hồ Ba Bể được bao bọc bởi các dãy núi đá vôi sen lẫn sa thạch cổ với độ cao trên 1.000m và các cánh rừng già nguyên sinh, nước hồ trong xanh, quanh năm mát mẻ, toàn cảnh hồ như một bức tranh thủy mặc, in đậm bóng núi, lồng lộng mây trời, nhìn giống như một chiếc gương khổng lồ phản chiếu những dãy núi uốn lượn vòng cung ẩn hiện trên mặt hồ, điều đặc biệt là các loài cây cỏ ở đây không phải mọc ra từ những lớp đất màu mỡ mà mọc lên từ đá. Có thể quý khách trước đó sẽ không thể nghĩ rằng sau những dãy núi đá vôi sừng sững kia lại có một hồ nước trong xanh, thơ mộng trầm mặc, mênh mang giữa đại ngàn và mê hoặc lòng người đến như vậy.

Hàng năm từ ngày 10 đến 13 tháng giêng Ba Bể tưng bừng diễn ra ngày hội xuân; hội xuân được tổ chức khi mùa màng kết thúc dân bản được nghỉ ngơi để du xuân, du khách từ phương xa tới sẽ được vui chung ngày hội với bà con dân tộc nơi đây, quý khách sẽ được xem điệu múa khèn của các chàng trai người Mông gọi bạn tình, được nghe làn điệu Sli, lượn của các thiếu nữ Tày, được nghe dân tộc Sán Chay hát dân ca, được tham gia các trò diễn như tung còn, bịt mắt bắt dê, xem chọi bò, thi đua thuyền độc mộc trên hồ v.v.. Còn một điều đặc biệt mà không thể không nhắc đến khi tham quan hồ Ba Bể đó là những con thuyền độc mộc – Đây là nét đặc trưng riêng của hồ Ba Bể, được nhân dân trong vùng khoét từ thân cây gỗ, duy nhất trên thuyền chỉ có một mái chèo, nhìn người chèo thuyền ta như đang được xem một nghệ sĩ biểu diễn; thuyền Độc Mộc trước đây là phương tiện đi lại duy nhất của cư dân lòng hồ và sông Năng, người ta dùng Độc Mộc để chài lưới, đi lấy củi, các em nhỏ thì dùng làm phương tiện để đi học. Ngày nay do phát triển  du lịch nên hồ có thêm một phương tiện nữa là thuyền máy để đưa du khách đi tham quan thông tuyến từ hồ ra sông Năng. ĐọcMẹo Du Lịch

Xung quanh hồ là các bản nhà sàn của người Tày, sau một ngày dạo chơi trên hồ du khách có thể dừng chân và nghỉ ngơi ở chốn này, sống trong không khí ấm áp đượm tình mến khách của bà con dân bản, nhà sàn ở đây to rộng và thoáng mát quý khách sẽ được thưởng thức các món ăn truyền thống của người dân miền núi Ba Bể, nhấp những chén rượu ngô thơm mùi nếp, các tiết mục đặc sắc của đội văn nghệ thôn Pác Ngòi chắc hẳn sẽ ngất ngây lòng du khách.

Ngoài các điểm tham quan chính trong khu vực lòng Hồ, quý khách có thể đi thuyền tham quan các điểm du lịch khác trong khu vực Vườn quốc gia Ba Bể như: Động Puông, thác Đầu Đẳng trên tuyến sông Năng, tham quan động Hua Mạ, thác Bạc, hang Thẳm Phầy (nằm cách hồ 7km về phía Tây Bắc) hoặc vòng qua phía Tây Nam tham quan Đồn Đèn - nơi có khí hậu ôn đới quanh năm mát mẻ, tham quan các vườn trồng hoa Ly, khoai Lệ Phố, tham quan các bản làng người Mông, người Dao ở trên đỉnh núi hay cùng người dân địa phương khám phá hành trình “săn mây trên đỉnh núi Hoa” …Đến Ba Bể với khí hậu trong lành mát mẻ, với các cảnh vật được thiên nhiên ưu đãi, du khách có thể tham gia vào nhiều loại hình du lịch: Leo núi dã ngoại, tham quan vãn cảnh hồ, tìm hiểu đời sống văn hoá dân tộc, nghiên cứu khoa học và du lịch nghỉ dưỡng…

Do cấu tạo địa chất đặc biệt nên hồ Ba Bể có những nét rất riêng biệt so với các hồ Caxtơ trên thế giới. Vì vậy, tháng 03 năm 1995 Hội nghị quốc tế về Hồ trên thế giới được tổ chức tại Mỹ đã xếp hồ Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt đẹp nhất trên thế giới cần phải được bảo vệ. Cuối năm 2004, Vườn quốc gia Ba Bể được công nhận là Vườn di sản Asean và năm 2012 được công nhận là di tích cấp Quốc gia đặc biệt và là khu Ram Sa thứ 3 của Việt Nam. Với không khí mát mẻ quanh năm của núi rừng và sông nước, du khách có thể tham quan Hồ Ba Bể bất cứ thời gian nào trong năm. Đến Hồ Ba Bể, du khách không chỉ được tham quan, trải nghiệm về vẻ đẹp thiên nhiên vốn có nơi đây mà còn được thưởng thức những món ăn đặc sản truyền thống, được hòa mình, được khám phá về bản sắc văn hóa của dân tộc địa phương nơi đây.

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây