Ta hãy giải thích đoạn trích của bài phú nói trên:
Bèn giữa dòng chừ buông chèo,
Học Tử Trường chừ thú tiêu dao.
…………………………………………..
Tái tạo công lao, nghìn xưa ca ngợi.
Bài phú nhắc lại những chiến công lừng lẫy trên sông Bạch Đằng. Tác giả xúc động trước cảnh sông nước mênh mông, hồi tưởng về chiến trận giữa ta và địch, từ đó suy nghĩ về nền độc lập nước nhà, tài trí của các bậc anh hùng và cuối cùng rút ra bài học giữ nước.
Đoạn phú mở đầu bằng câu:
Bèn giữa dòng chừ buông chèo,
Học Tứ Trường chừ thú tiêu dao.
Tứ Trường tức là Tư Mã Thiên, nhà sư học, nhà văn học nổi tiếng của Trung Quốc, văn chương được khen là có khí thế hào hùng, đã từng đi khắp đất nước Trung Hoa để du ngoạn, nghiên cứu. Nhà thơ học Tứ Trường, du ngoạn trên sông Bạch Đằng để hưởng thú nhàn dật, di dưỡng tâm hồn. Ông ngắm cảnh vật và xúc động: Cửa Đại Than, bến Đông Triều đang hẹp nhỏ đến sông Bạch Đằng bỗng mở rộng mênh mông:
Bát ngát sóng kình muôn dặm.
Thướt tha đuôi trĩ một màu.
Sóng mênh mông, thuyền lướt sóng, nước xanh, trời xanh vào tiết cuối thu. Lau lách đìu hiu, xào xạc. Giáo gãy, xương khô. Đây là chiến trường thuở nọ. Đánh lớn, thắng to. Nhưng hi sinh không nhỏ. Trời nước trong lặng kia lắng nghĩ chăng? Lau lách nọ thì thầm chuyện cũ chăng? Giáo gãy, xương khô im lìm, vĩnh viễn. Cảnh vật ấy làm sao không động lòng người! Khách xúc động mà đứng lặng. Tiếc thương bao kẻ anh hùng nay đã khuất. Buồn thay vết tích cù hãy còn, khiến người vãn cảnh không khỏi đau buồn, thương tiếc.
Đó là càm xúc hoài cổ tức là nhớ xưa, cảm chuyện xưa. Sau này Nguyễn Trãi thăm cảnh sông Bạch Đằng, cũng có những cảm tưởng như thế trong bài Cửa biển Bạch Đằng, cũng dáng núi như còn in bóng quân thù còn bị chặt, bị bằm nên thành lởm chởm, cũng bâng khuâng nhớ tìm lại cảnh cũ trên dòng nước trôi:
Kình ngạc băm vằm non mấy khúc
Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.
……………………………………………….
Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng..
Đáng để ý chăng là giọng điệu của bài phú dang rợn ngợp trước cảnh bao la trời nước thì bỗng chuyển sang điệu cảm khái buồn buồn: Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu.. Vậy là cảnh và tình của đoạn văn phù hợp với cảnh sông lịch sứ này.
Bên sông, các bô lão hỏi ý ta sở cầu...
Đây là nơi chiến địa...
Trên là cảnh sông bình yên, dưới là cảnh chiến trận không còn sóng bát ngát mà thuyền đuổi nhau theo sóng, không phai là lau lách, giáo gãy xương khô, trời nuớc một màu mà:
Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới,
Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói.
Hình ảnh miêu tả cảnh chiến trận oanh liệt, phù hợp với tính chất quyết liệt của trận đánh. Chiến thuyền thì thuyền bè muôn đội, mà lại rực rỡ cờ xí, người thì hung hổ sáu quân, giáo gươm không phải là giáo gãy, giáo chìm ma là giáo gươm sáng ngời. Không phải cảnh nước trời một sắc trong xanh, êm ả mà nhật nguyệt chừ phải mờ, trời đất chừ sắp đổi.
Lũ giặc kiêu ngạo, khoác lác gánh chịu số phận của kẻ bại trận nhục nhã. Bồ Kiên kiêu căng bảo gieo roi một lần là quét sạch nước Tấn. Điển tích đã cho thấy tiếp theo câu nói ấy là sự bại vong tuyệt đối, không có gì thảm hại bằng trận Hợp Phì giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi. Dẫn trích Tào Tháo thua ở Xích Bích cùng là một gương thất bại không kém thảm hại. Bài phú Tiền Xích Bích của Tô Đông Pha thuật vắn tắt nhưng đều tả được cảnh thuyền bè bị cháy trụi, hàng vạn binh sĩ đều thành tro bụi. Dẫn tích bên Tàu đấy nhưng là để nói các trận đánh ở trên sông này từ Ngô Quyền đến Trần Hưng Đạo. Cái còn lại của lũ giặc chỉ là sự nhục nhã mà thảm hại thay, nước sông tuy chảy hoài mà nhục ấy không rửa nổi. Các bô lão hầu như không nói gì nhiều và trực tiếp về phía quân ta, nhưng sức mạnh có trời giúp, tức sức mạnh có chính nghĩa tự nó biến thành chiến thắng vang đội. Kết lại chỉ có một lòng biết ơn là tái tạo công lao, nghìn thu ca ngợi.
Trong đoạn trích, thời gian và không gian lẫn lộn với nhau, thâm nhập vào nhau. Không gian xưa kèm với thời gian xưa. Dường khi ấy là xưa trong thời gian, thuyền bè., bầu trời là xưa trong không gian: Đến nay là nay, nước sông tuy chảy hoài là cả xưa lẫn nay. Trong nghệ thuật viết văn hay điện ảnh ngày nay, người ta gọi cách ấy là đồng hiện, làm cho truyện kể được sinh động, không đơn điệu, nhờ đó tăng phần lôi cuốn.
Đoạn trích thể hiện cảm xúc bồi hồi của Trương Hán Siêu khi đứng trước cảnh sông nước từng ghi dấu những chiến công oanh liệt của dân tộc ta. Đoạn trích cũng thể hiện lòng thương tiếc, kính phục các bậc anh hùng ngày trước. Đó cũng chính là tấm lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc của tác giả.