Tuy có thâm niên công tác ở Hà Nội, nhưng những trang viết về nông thôn của Ngô Ngọc Bội vẫn luôn tươi mới, hấp dẫn, có nhiều trang đặc sắc. Ông từng quan niệm: trong các thể loại văn chương, thể kí là một thứ đoản đao. Nó có khả năng đáp ứng tức thời, tả xung hữu đột, sắc nhọn, quyết liệt, cũng chẳng kém phần văn chương. Kí vừa có khả năng thông tin tin tức vừa giàu tính mĩ cảm.
Từ những bài kí đầu tay in trên báo Văn học, Ngô Ngọc Bội đã sớm bộc lộ một cách viết khá riêng. Bản tính năng động, chân tình, cởi mở và nhạy cảm đã tạo ra lợi thể về phương pháp tiếp cận và thể hiện vấn đề trên trang kí. Chỉ nhìn đầu đề những bài kí của ông, cũng đủ hiểu những miền đất ông qua, những con người ông gặp và thời sự cuộc sống mà kí của ông chuyển tải mấy chục năm ròng. Ông có mặt ở hầu khắp những điểm nóng, những phong trào, khi thì vận động khai hoang, lúc đắp đê chống lụt, khi ở mặt trận, lúc ở công trường... và ngòi bút vừa xông xáo, trữ tình vừa suy tư, dí dỏm tạo nên trang viết vừa đáp ứng được nhu cầu chiến lược vừa văn chương. Ngay trong những bài kí mang tính chất “phong trào”, Ngô Ngọc Bội cũng thiên về cảm hứng trữ tình, và dường như ông sử dụng trữ tình thành một thủ pháp nghệ thuật đặc dụng trong kí. ở đó tác giả vừa có điều kiện bộc lộ hết mình, vừa có điều kiện làm cho đối tượng sống động trên trang viết.
Ngô Ngọc Bội không lệ thuộc vào những số liệu - cái mà nhiều người thường cho cho là linh hồn của bài kí. Ông dùng số liệu như một thứ yếu, cùng lắm mới phải cho vào bài viết với điều kiện số liệu đó phải có sức gợi. Cái quan trọng trong bài kí ngoài tính thời sự nóng bỏng còn ở phẩm chất văn chương, ở hình tượng đời sống. Thông thường, muốn viết kí người ta phải thâm nhập thực tế. Ngô Ngọc Bội cũng vậy, nhưng ông không lấy các báo cáo của cơ sở làm “bà đỡ” cho những trang kí của mình, mà phải nghe, phải thấy và phải nghĩ. Ông không ưa cách nhìn một chiều, kể cả nơi có thành tích mà cảm hứng chung là ca ngợi. Ngay từ phóng sự Đồng Lực, một điển hình tiên tiến của Vĩnh Phú những năm 1960, mặc dù đã dự Đại hội chiến sĩ thi đua, nghe báo cáo và nghe mọi người tán dương, Ngô Ngọc Bội vẫn phải tìm về tận cơ sở để tìm hiểu ngọn ngành rồi sau đó mới lên bài kí.
Việc tiếp xúc với số liệu, sự kiện mới chỉ là bước một của bài kí. Ngô Ngọc Bội thường tâm sự: “Khốn khổ cho tôi, khi chưa có cảm xúc thì viết một dòng, thậm chí một chữ cũng không viết nổi”. Cảm xúc thường xuất hiện trước tình huống, vậy viết như thế nào để có tình huống - đó là vấn đề mấu chốt để nảy sinh cảm xúc. Ngô Ngọc Bội khi viết thường phải bám lấy thực tế, chứ không phải bám sát thực tế. Đến cơ sở, khi đã tìm được vấn đề, ông thường bắt đầu làm việc kịch liệt “sáng, trưa, chiều, tối, tứ chi và năm giác quan phải căng ra mà lăn lộn, thăm thú, tìm tòi, giả định, giả thuyết, lật ngược lật xuôi” chứ không chỉ ghi chép một cách thụ động. ông hay tìm vào những tình tiết, chi tiết có sức nổ, sức cháy - nhất là tâm lí tình cảm con người. Những “hạt nhân” đó đưa được vào đúng chỗ, nó chói ngời làm thành ấn tượng cho người nghe, người đọc. Câu chuyện con cá mè chết mà đem bán bỏ quỹ (Đồng Lực), chuyện hướng dẫn bà con nông dân cầm cày (Trở lại một vùng sau lũ lụt), chuyện con gà mẹ bị rũ con ở lại đem bán (Nỗi riêng khép mở) hay cảnh tượng tập tính của các loài sinh vật trên bãi biển, phản ứng của loài chim trong rừng sú (Rừng của biển)... ai đã nghe, đã đọc một lần thì có thể nhớ mãi được.
Khi viết kí, Ngô Ngọc Bội thường tham gia trong cuộc với đối tượng. ông hoà vào nhịp sống của đối tượng mà chiêm nghiệm, mà nghĩ suy. Thư viết từ quán Hàu kể chuyện bộ đội trong tuyến lửa Quảng Bình. Đêm Trường Sơn, Hòn Cóc cụ kể về đời sống bộ đội Trường Sơn hay kể chuyện Rừng của biển... luôn có sự tham gia của tác giả. ông lăn lộn cùng vui buồn, gian khổ của thực tế mà viết. Trong bút kí Trở lại một vùng sau lũ lụt có đoạn: “Chúng tôi quý mến nhau từ những buổi “đào sông kê ruộng”, những tối sinh hoạt đội, những buổi gặt lúa thi. Và cả lúc các cô dạy tôi xén lúa. Tôi luôn uốn nắn cho các cô cách cầm cày: “Ai lại cầm cày như cầm chày giã cua thế, trông thô lắm. Chỉ cần ba đầu ngón tay cầm trên đốc cày thôi. Cầm cày cũng nhẹ nhàng như người cầm bút". Tình đời, tình người làm cho những trang kí của Ngô Ngọc Bội sinh động, tươi tắn là vì vậy. Ngòi bút viết kí của ông thật đa dạng: khi hồn nhiên ào ạt, lúc trầm tĩnh lắng sâu, lúc lại khoan thai tỉ mỉ... nhưng xuyên suốt là cái nhìn ấm áp, nhân hậu từ bản chất của vấn đề. Tuy ở những trang kí đó không nhiều những xung đột gay gắt như trong tiểu thuyết hay truyện ngắn của ông, nhưng thủ pháp “tia lade” của ông lại tỏ ra đắc dụng trong những đoạn, những pha ông chủ định chĩa thẳng, xoáy sâu vào vấn đề, làm cho chúng bùng cháy lên khiến người đọc bị lôi cuốn, say mê. Ngô Ngọc Bội khá linh hoạt trong việc điều khiển “Tia lade” trong bài kí - khi thì luận giải khúc chiết, khi liệt kê nổi bật, lúc trữ tình gợi cảm... và gây được bất ngờ thú vị. Chẳng hạn, khi viết về cây cối ông kết thúc thế này: “Tôi chợt cao hứng ngâm một câu ca dao nói về chiếu "Chẳng ham bông cúc bông hồng - Ham cô bán chiếu qua sông nặng đò". Chị Khải cũng là cô hàng chiếu đấy nhỉ? Chị Khải nhìn tôi mủm mỉm cười, rồi hỏi một câu thật hóm: “Thế hồi anh cưới chị ấy ông chủ hôn có trải cho anh một cặp chiếu lồng hay không? - Có chứ (Ngô Ngọc Bội trả lời - N.T.H). Ngày ấy mẹ tôi mua cho tôi một đôi chiếu mới tinh màu trắng như ngà. Đêm hôm ấy tôi còn nhớ nguyên cái mùi cói phơi được nắng đượm cả hương vị mặn của vùng biển, vị nồng của mồ hôi người dệt chiếu và mùi bồ kết. Chẳng biết những cái buồng tân hôn ở bên châu Âu họ có trang trí những thảm cói bà con ta dệt không nhỉ, chị Khải thu mua có thấy cái mùi thơm của cói hay không?” (Mùi thơm của cây cói). Chất trữ tình, dí dỏm quấn quyện ấy không phải là gia vị, dấm ớt trong bữa ăn mà có tác dụng nâng giá trị bài kí lên rõ rệt. Trang kí của ông có lẽ vì thế mà sống động, có khi đọc lên, người ta giật mình nhận ra cái đẹp, cái giàu hoặc vấn đề mà mình từng băn khoăn, trăn trở. Trong Mùa ngô ở Nà Sản ông viết: “Năm giờ chiều hôm sau chuyến xe ngược Tây Bắc. Qua ngày thứ hai xe vượt khỏi dốc Chiềng Đông. Rồi ngã ba Cò Nòi hiện ra, “Không khí ngô” bắt đầu: Ngô vươn qua đồi thấp, ngô len lỏi vào các thung lũng. Ngô chạy sang đường số 6, từ cây số 257 đến cây số 283. Ngô quặt sang đường 17 về phía Tây Nam, ngô thấp thoáng sau những rặng cây hoa ban. Màu ngô chín vàng nhạt, làm biến đổi cái màu xanh bao la của rừng”... Bức tranh cuộc sống đẹp được tái hiện bằng đoạn văn vừa gợi hình, gợi cảm vừa giàu tính hội hoạ và điện ảnh. Tốc độ miêu tả nhanh, mạnh, tạo cảm giác choáng ngợp, lôi cuốn. Có khi, nhà văn dừng lại đặc tả bức tranh hiện thực một cách trực diện và vừa tả, vừa bình: “Loại tám cẳng hai càng đẹp nhất, rực rỡ nhất và cũng dị dạng nhất, là con còng kê. Khi tất cả các con còng kê bò lên mặt bùn dưới ánh nắng ban mai, nó giống như ai vừa mới bưng rổ ớt phật thủ chín mọng tung ra phơi, hay là một vùng trồng lạc, khi mầm lạc đội đất giương hai cái tai mầm còn vướng màu cùi hạt đỏ au lên nhìn bầu trời. Con còng kê đực to nhất cũng chỉ bằng ngón tay, nhưng cái càng phía trái cũng to bằng cái thân của nó, lại dài gấp đôi thân. Càng chả tương xứng với thân tí nào mà lại rất hài hoà, ngộ nghĩnh. Giống như những tác phẩm của nhà đại danh hoạ cách điệu lên vậy. Càng và chân còng kê đỏ rực rỡ. Mai màu rêu xanh bóng lọng, có hoa văn như hoa đá. Càng to hình như là một thứ vũ khí tự vệ, vì khi có động thấy nó giơ lên che chở cho toàn thân, kềnh càng, dữ tợn và nhạy bén. Nó đánh bật cả bộ lưỡi câu chùm khi có người định buông câu ra ngoặc nó vào giỏ, và chạy thoát. Trái lại, chiếc càng bên phải lại chỉ nhỏ xíu, bằng nửa cái chân thường, cái càng này cũng rất linh hoạt liên láu, giống như cái thìa con xúc thức ăn vào miệng. Đôi mắt con còng kê mới thật là kì lạ. Cọc mắt cao tới một phân rưỡi, dài hơn cả chiều ngang của thân nó; khi giương mắt lên nó nghênh ngang như cái cọc đèn biển tự hành dương dương tự đắc, chậm chạp quay đảo tứ phía, giống như cái vỉ sắt của trạm rađa. Đôi mắt nghiêng ngó một phút, chừng mỏi, chúng lại tự hạ hai cọc mắt xuống hố mắt, nằm dẹp xuống hai bên mép mai. Lập tức từ dưới miệng bật ra hai cái thanh vẫn gấp sẵn thành ba gấp, dấu kín miệng vươn dài lên vuốt mắt. Tuồng như nó dấp nước cho mắt khỏi bị khô, để luôn luôn tỉnh táo. Thiên nhiên thật kì lạ! Trong khi đó con còng cái lại không có càng to, chỉ có hai càng rất nhỏ duyên dáng, lon ton vun vén luôn tay... (Rừng của biển). Đọc đoạn văn lên vừa có khoái cảm được chiêm ngưỡng một cảnh tượng bãi biển kì thú, vừa được bồi dưỡng những tri thức đời sống bổ ích. Trang kí của Ngô Ngọc Bội có không ít những đoạn văn như thế. Một đồi chè, một đồng cói, đồng muối, đồi sơn... được miêu tả trong trạng thái hoạt động bao giờ cũng lấp lánh đâu đó ánh mắt say mê và nhịp đập tinh tế nhạy cảm của trái tim người viết. Có lẽ cái tâm khi trở thành linh hồn cho các con số, sự kiện, chi tiết, thì con số, sự kiện... mới dồi dào sức sống và lay động.
Với kí, Ngô Ngọc Bội không câu nệ đề tài. Ông đến với biển, với rừng, với đồi, với đồng ruộng, với Trường Sơn, nhiều khi viết đi viết lại mà lần nào cũng háo hức, mới lạ. Tình cát sỏi là bài kí vừa sinh động, hấp dẫn, vừa ấm áp tình người, tình đời, đã được trao giải A cuộc thi viết kí của Đài tiếng nói Việt Nam tổ chức năm 1982-1984. ở bài kí này, công việc “bòn tro đãi sạn” - đề tài xưa nay rất ít người viết quan tâm, ngòi bút của Ngô Ngọc Bội bộc lộ rõ khả năng quan sát nhạy cảm đặc biệt kết hợp với sở trường phân tích tâm lí, do đó những gian khổ, vui buồn âm thầm trên sông nước của những người khai thác cát được phản ánh nổi bật cùng với những suy nghĩ, trở trăn của họ.
Có một vấn đề Ngô Ngọc Bội đặt ra như một nguyên tắc khắt khe cho mình, đó là: nếu cảm xúc chưa chín, nếu viết ngắc ngứ thì coi như vứt bỏ, giống như bông hoa đã thụ phấn nhưng không đậu quả. Chính vì thế, kí của ông tuy không khỏi có đoạn thô tháp, dàn trải nhưng đó không phải là những đoạn “chín ép”. Bút pháp trữ tình là chất men làm cho kí lấp lánh âm vang xa rộng nên có đoạn ông không dừng lại được.