A- Hướng dẫn tìm hiểu bài
I. Sự biến đổi của từ ngữ
Tiếng Việt đã có từ lâu đời. Cùng với sự phát triển của đất nước, tiếng việt ngày một phát triển, thêm giàu, đẹp. Nhiều từ ngữ cổ mất đi và được thay thế bằng những từ ngữ mới thuộc nhiều lĩnh vực như khoa học, kĩ thuật, văn hoá xã hội. Trên con đường phát triển và hội nhập, tiếng Việt ngày càng trở nên giàu có và hiện đại.
- Có nhiều từ cổ nay không còn nữa.
Bui có một lòng trung lẫn hiếu
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen.
(Nguyễn Trãi)
Bui một tấc lòng ưu ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông.
(Nguyễn Trãi)
(Bui: chỉ)
- Bên cạnh đó, có nhiều từ ngữ mới xuất hiện để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.
Ví dụ: điện tử, ti vi, vấn nạn...
II. Sự phát triển nghĩa của từ ngữ
Một trong những cách phát triển từ vựng tiếng Việt là phát triển nghĩa của từ ngữ trên cơ sở nghĩa gốc của chúng.
Ví dụ:
Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt
Một vầng trăng trong vắt lòng sông.
(Bạch Cư Dị)
Một lá về đâu xa thăm thẳm,
Nghìn làng trông xuống bé con con
(Nguyễn Khuyến)
Có hai phương thức chủ yếu phát triển nghĩa của từ ngữ: phương thức ẩn dụ và phương thức hoán dụ.
+ Phương thức ẩn dụ, thí dụ:
Những hoa quý toả mùi hương vương giả,
Mây đa tình như thi sĩ đời xưa...
(Xuân Diệu)
Đi suốt cả ngày thu
Vẫn chưa về tới ngõ
Dùng dằng hoa Quan họ
Nở tím bến sông Hương
(Hữu Thỉnh)
+ Phương thức hoán dụ:
Một tay gây dựng cơ đồ,
Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành.
(Nguyễn Du)
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.
(Hoàng Trung Thông)
1. Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu có câu Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế. Từ kinh tế trong câu này là hình thức nói tắt của kinh bang tế thế, nghĩa là trị nước cứu đời.
Ngày nay, chúng ta không hiểu từ kinh tế theo nghĩa như Phan Bội Châu đã dùng mà dùng với nghĩa: toàn bộ sự hoạt động của con người trong lao động sản xuất, trao đổi, phân phối và sử dụng của cải, vật chất làm ra.
Qua đó, ta thấy nghĩa của từ không phải là bất biến. Nó có thế biến đổi theo thời gian, nghĩa cũ mất đi, nghĩa mới được hình thành.
2. Đọc các câu trích từ Truyện Kiều của Nguyễn Du và trả lời câu hỏi
- Trong đoạn trích (a), từ xuân (Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân) được dùng theo nghĩa gốc: mùa chuyển tiếp từ đông sang hạ, thời tiết ấm dần lên, thường được coi là mùa mở đầu của một năm.
- Từ xuân (Ngày xuân em hãy còn dài) được dùng theo nghĩa chuyển: chỉ tuổi trẻ, Từ này được dùng theo phương thức ẩn dụ.
- Trong đoạn trích (b), từ tay (Giở kim thoa với khăn hồng trao tay) được dùng với nghĩa gốc: chỉ bộ phận phía trên cơ thể, từ vai đến các ngón, dùng để cầm, nắm.
- Từ tay (Cũng phường bán thịt cũng tay buôn người), chỉ những người chuyên hoạt động về một môn, một nghề nào đó. Từ này được dùng theo phương thức hoán dụ.