1. Nguyên nhân
Cách mạng tháng Tám thành công, ngoài việc chuẩn bị chu đáo còn cần có thời ca. Thời cơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn những điều kiện bên trong và điều kiện bên ngoài (chủ quan và khách quan), trong đó điều kiện chủ quan giừ vai trò quan trọng nhất.
a. Chủ quan:
Đảng cộng sản Việt Nam đã có quá trình chuẩn bị chu đáo cho thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám suốt 15 năm với ba cuộc diễn tập: 1930 - 1931; 1936 - 1939 và 1939 - 1945. Trong cao trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo nhân dân chuẩn bị đẩy đủ, chu đáo về mặt đường lối, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng và bước đầu tập dượt cho quần chúng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Khi Phát xít Nhật bị Đồng minh đánh bại, bọn Nhật ở Đông Dương hoang mang cực độ, mất hết tinh thần chiến đấu. Lúc này quân Đồng minh chưa kịp vào Đông Dương.
Qua cao trào kháng Nhật cứu nước, quần chúng đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ chờ lệnh khởi nghĩa.
b. Khách quan:
Thời cơ “ngàn năm có một” đã đến. Tháng 5/1945 Phát xít Đức bị tiêu diệt, ngày 14/8/1945 Phát xít Nhặt bị Đồng minh đánh bại. Ngày 15/8/1945 Nhật chính thức đầu hàng Đồng minh vô điều kiện.
Như vậy Cách mạng tháng Tám nổ ra trong điều kiện chủ quan, khách quan hoàn toàn chín muồi. Đó chính là thời cơ “ngàn năm có một” vì nó rất hiếm và rất quí, nếu bỏ qua thì sẽ không bao giờ thời cơ trở lại nữa. Nhận thức rõ thời cơ có một không hai này, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Đây là thời cơ ngàn năm có một cho dân tộc ta vùng dậy. Lần này dù có phải thiêu cháy dãy Trường Sơn cũng quyết giành độc lập cho đất nước”.
2. Diễn biến của Cách mạng tháng Tám 1945
* Trước những chuyển biến mau lẹ của tình hình, Đảng đã tiến hành Hội nghị toàn quốc từ ngày 13 đến ngày 15/8/1945 (tại Tân Trào - Tuyên Quang).
Hội nghị quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Thành lập Ủy ban khởi nghĩa và ra Quân lệnh số 1, kêu gọi toàn dân nổi dậy. Hội nghị còn đề ra ba nguyên tắc chỉ đạo khởi nghĩa; tập trung, thống nhất và kịp thời.
* Hội nghị toàn quốc của Đảng vừa bế mạc Tổng bộ Việt Minh triệu tập Quốc dân (tại hội Tân Trào - Tuyên Quang, trong 2 ngày 16 và 17/8/1945.)
Tham dự Đại hội có 60 đại biểu đại diện cho nhân dân ba miền: Bắc - Trung - Nam, cho các dân tộc, các đảng phái, các tôn giáo dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh.
Đại hội đã biểu quyết tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng.
Đại hội quyết định: Quốc kỳ lá cờ đỏ sao vàng, Quốc ca là bài Tiến quân ca. Đặt tên nước là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và cử ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh đứng đầu.
Đại hội dã quyết định những vấn đề hết sức quan trọng có liên quan đến vận mệnh của đất nước. Chuẩn bị những công việc cuối cùng cho tổng khởi nghĩa.
* Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân Tân Trào đã thể hiện sự đoàn két, nhất trí quyết tâm giành độc lập tự do của toàn Đảng, toàn dân ta.
* Chiều 16/8, một đội quân giải phóng do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy đã từ Tân Trào tiến về giải phóng Thị xã Thái Nguyên, mở đầu cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc. Tính đến ngày 18/8 đã có 4 tỉnh lỵ giành được chính quyền: Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam.
* Giành chính quyền ở thủ đô Hà Nội: Chiều 15/8, mệnh lệnh khởi nghĩa về tới Hà Nội, sáng 16/8 truyền đơn. Biểu ngữ xuất hiện khắp mọi nơi, không khí khởi nghĩa ngày thêm sôi sục.
Mờ sáng ngày 19/8, hàng chục vạn quần chúng ngoại thành, kéo qua các cửa ô, tiến vào nội thành, phối họp với quần chúng nội thành, tiến hành cuộc mít tinh khổng lồ tại sân Nhà hát lớn. Một rừng cờ đỏ sao vàng mọc lên, quần chúng hô vang các khẩu hiệu “Đả đảo Chính phủ bù nhìn”, “ủng hộ Việt Minh”, “Việt Nam hoàn toàn độc lập”.
Khoảng 11 giờ 30 cuộc mít tinh kết thúc, quần chúng chia thành nhiều toán, dưới sự lãnh đạo của Việt Minh, toả đi đánh chiếm các cơ quan đầu não của địch như: Phủ Khâm sai, Toà Thị chính, Sở Cảnh sát
Trước sức mạnh của quần chúng, bọn địch chống cự yếu ớt. Chính quyền về tay nhân dân. Cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội hoàn toàn thắng lợi.
* Giành chính quyền ở Huế: Sáng ngày 23/8 hàng vạn quần chúng ngoại thành phối hợp với công nhân, thanh niên và các tầng lớp lao động khác ở nội thành tiến hành cuộc biểu dương lực lượng cướp chính quyền.
Trước khí thế vùng dậy như nước vỡ bờ của quần chúng, bọn địch ở đây không dám chống cự. Cách mạng giành thắng lợi ở Huế.
Ngày 30/8/1945, tại cửa Ngọ Môn (Huế) dưới rừng cờ đỏ sao vàng, diễn ra cuộc mít tinh của hàng vạn nhân dân chứng kiến Bảo Đại, ông vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam đọc lời thoái vị và nộp ấn kiếm cho cách mạng.
* Tại Sài Gòn: Mờ sáng ngày 25/8/1945, từng đoàn quân khởi nghĩa của công nhân, nông dân ngoại thành phối hợp với hàng chục vạn quần chúng nội thành có vũ trang kèm theo, tiến hành biểu tình, thị uy đánh chiếm các công sở của địch. Kẻ địch ở đây không dám chống cự. Chỉ trong ngày 25/8, khởi nghĩa ở Sài Gòn đã thành công.
Các nơi còn lại ở Nam Bộ, kể cả Côn Đảo, đến ngày 28/8 khởi nghĩa đã giành chính quyền về tay nhân dân.
Thắng lợi của các cuộc khởi nghĩa Hà Nội, Huế, Sài Gòn cỏ ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám trong phạm vi cả nước. Chỉ trong vòng 15 ngày (từ 14 đến 28/8/1945) cuộc tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi trọn vẹn. Lần đầu tiên trong lịch sử, chính quyền cả nước về tay nhân dân.
3. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước cuộc mít tinh lớn của hàng chục vạn nhân dân đủ các tầng lớp ở Thủ đô và các vùng lân cận, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời.
Nội dung của bản: “Tuyên ngôn độc lập” gồm mấy điểm sau đây:
+ Nêu những quyền thiêng liêng không ai có thể xâm phạm được, đó là quyền bình đẳng giữa các dân tộc: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
+ Tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta gần một thế kỷ, đồng thời tố cáo sự cấu kết, áp bức bóc lột của Pháp - Nhật đối với nhân dân ta.
+ Khẳng định chủ quyền của nước ta trên hai phương diện; pháp lí và thực tiễn: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng minh chống Phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do. dân tộc đó phải của độc lập !... và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”.
+ Cuối cùng Tuyên ngôn khẳng định quyết tâm bảo vệ độc lập chủ quyền của nhân dân ta: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Tuyên ngôn độc lập là văn kiện lịch sử trọng đại, và ngày 2/9/1945 mãi mãi ghi vào lịch sư Việt Nam là ngày hội lớn, vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Ngày tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
4. Ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám 1945
a. Ý nghĩa:
* Đối với dân tộc:
- Cách mạng tháng Tám 1945 là một biến cố vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đã phá tan hai tầng xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật nhào ngai vàng phong kiến tồn tại hàng ngàn năm trên đất nước ta, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
- Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, đưa nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ lên địa vị làm chủ nước nhà, đưa Đảng ta từ một Đảng hoạt động trong bí mật trở thành một Đảng cầm quyền.
-Cách mạng tháng Tám thành công mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: kỷ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
* Đối với thế giới:
- Cách mạng tháng Tám 1945 là thắng lợi đầu tiên trong thời đại mới của một dân tộc nhỏ yếu tự đứng lên giải phóng khỏi ách đế quốc thực dân.
- Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã góp phần vào chiến thắng chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai.
-Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa trên thế giới, nhất là đối với hai nước Lào, Campuchia.
b. Nguyên nhân thắng lợi:
Thắng lợi Cách mạng tháng Tám 1945 là kết quả tổng hợp của những nhân tố khách quan và chủ quan.
* Vì khách quan:
-Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai của bọn đế quốc đã làm cho chúng ngày càng thêm suy yếu. Tiếp đó là cuộc chiến đấu của nhân dân Liên Xô và lực
lượng dân chủ đã từng bước làm thất bại lực lượng phát xít Đức - Italia - Nhật Bản. Tất cả đã tác động đến quá trình cách mạng thế giới, thúc đẩy các dân tộc thuộc địa đấu tranh giải phóng.
- Nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, đã lợi dụng điều kiện khách quan thuận lợi đó dấy lên một phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Đến khi lực lượng Đồng minh và Liên Xô đánh bại Phát xít Nhật ở châu Á - Thái Bình Dương vào ngày 14/8/1945 đã tạo nên thời cơ khách quan cho Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Đó là thời cơ “ngàn năm có một” được Đảng ta triệt để lợi dụng, kịp thời chớp lấy, phát động toàn dân nổi dậy khởi nghĩa, và dã giành được thắng lợi mau lẹ, ít đổ máu.
Tuy nhiên, điều kiện khách quan đó chỉ có thể được phát huy thông qua điều kiện chủ quan của ta.
* Về chủ quan:
- Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, từng trải qua những cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất cho độc lập, tự do. Vì vậy, khi Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh phất cao ngọn cờ cứu nước thì mọi người hăng hái hưởng ứng, nhất tề đứng lên cứu nước, cứu nhà.
- Đảng cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo với đường lối cách mạng đúng đắn kịp thời. Vai trò lãnh đạo của Đảng là nguyên nhân quyết định thắng lợi Cách mạng tháng Tám 1945.
- Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám còn là thắng lợi của việc xây dựng lực lượng cách mạng, trước tiên là lực lượng chính trị của quần chúng. Trên cơ sở lực lượng chính trị, từng bước xây dựng lực lượng vũ trang. Đó là hai lực lượng hùng hậu được Đảng sử dụng hợp lý nhằm phát huy sức mạnh to lớn vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
c. Bài học kinh nghiệm:
Cách mạng tháng Tám 1945 để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá:
- Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp đúng đắn, sáng tạo nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, đưa nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai lên hàng đầu, nhằm tập trung lực lượng để thực hiện cho kì được yêu cầu cấp bách của cách mạng là giải phóng dân tộc giành độc lập tự do cho dân tộc.
- Đánh giá đúng và biết kết hợp, tổ chức lực lượng các giai cấp cách mạng, trong đó công nông là đội quân chủ lực. Trên cơ sở khối công nông liên minh, biết khơi dậy tinh thần dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân, tập hợp mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, phân hóa và cô lập cao độ kẻ thù rồi tiến lên đánh bại chúng.
- Nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm bạo lực cách mạng Vì khởi nghĩa vũ trang, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị; kết hợp chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị và khởi nghĩa từng phần ở nông thôn với đấu tranh chính trị và khởi nghĩa ở đô thị để khi có thời cơ thì phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền.