1. Sơ lược quá trình xâm lược Đông Dương của phát xít Nhật
Đông Dương là một địa bàn rất quan trọng về chiến lược quân sự: từ Đông Dương có thể thông tới các Châu lục, Đại dương. Là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, khoáng sản dồi dào, nguồn nhân lực lớn. Bởi vậy các đế quốc tìm cách chiếm đoạt.
Sau khi xâm lược Trung Quốc, Nhật đưa quân vào Đông Dương, dùng sức ép buộc pháp phải ký một loạt các Hiệp ước bất bình đẳng, rồi lần lượt dâng Đông Dương cho Nhật.
- Ngày 30/8/1940 Nhật buộc Pháp ký Hiệp định Tôkyô, gồm các nội dung:
+ Nhật được sử dụng “ba sân bay lớn ở Bắc Kỳ: Gia Lâm, Cát Bi, Phù Lạng Thương.
+ Nhật được đóng 6.000 quân ở phía bắc Sông Hồng.
+ Nhật được sử dụng các con đường ở Bắc Kỳ để vận chuyển binh lính, vũ khí, lương thực....
- Sau khi đổ bộ vào Đồ Sơn, đánh Hải Phòng, Lạng Sơn (22/9/1940), đến đầu tháng 7/1941 Nhật buộc Pháp ký Hiệp ước “Cam kết phòng thủ Đông Dương với Nhật”. Thực tế là Nhật đã chỉ huy Pháp về mặt quân sự.
- Tháng 12/1941 Nhật buộc Pháp ký Hiệp ước “Cam kết hợp tác toàn diện với Nhật”:
+ Tạo mọi sự dễ dàng cho việc hành binh của Nhật
+ Cung cấp lương thực, bố trí doanh trại cho quân Nhật.
+ Bảo đảm hậu phương an toàn cho quân Nhật. Như vậy về cơ bản Nhật đã làm chủ Đông Dương. Từ đó, Pháp Nhật cấu kết chặt chẽ với nhau trong việc bóc lột nhân dân Đông Dương. Nhân dân Đông Dương phải gánh chịu hai tầng xiềng xích Nhật - Pháp.
2. Tình hình Đông Dương dưới ách thống trị của Nhật Pháp
a. về phía Nhật
Chính sách thống trị của Nhật ở Đông Dương chỉ là tiếp nối sự thống trị của Pháp trước đây và ngày càng phản động hơn.
* Về chính trị:
- Thẳng tay đàn áp cách mạng và những người yêu nước, bóp nghẹt mọi quyền tự do dân chủ của nhân dân.
- Lập chính quyền bù nhìn “thân Nhật” do Trần Trọng Kim làm thủ tướng và bày trò trả “độc lập” giả hiệu để lừa bịp nhân dân ta.
- Chúng khuyến khích các tổ chức, đảng phái thân Nhật hoạt động để chống phá cách mạng Việt Nam, tiêu biểu là Đảng Đại Việt.
* Về kinh tế
- Chúng thẳng tay bóc lột nhân dân ta bằng cách tăng thuế, bắt nhân dân ta đi phu xây dựng hầm hào, đồn bốt, kho tàng.
- Bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay, thầu dầu phục vụ cho công nghiệp chiến tranh.
Hậu quả của các chính sách phản động nói trên là: nạn đói khủng khiếp cuối năm 1944 đầu năm 1945 đã giết hại 2 triệu đồng bào ta.
* Về văn hóa giáo dục
- Chúng dùng văn hóa nô dịch để đầu độc nhân dân ta. Khuyển khích mở trường dạy chữ Nhật để đào tạo bọn tay sai cho chúng. Chúng dùng sách báo, phim ảnh đồi trụy để đầu độc thanh thiếu niên.
- Chúng tuyên truyền cho khối “Đại Đông Á”, “Thịnh vượng chung”, chúng tuyên truyền văn hóa Nhật, sức mạnh của Nhật để gây tâm lý phục Nhật.
* Về quân sự
- Chúng liên tiếp mở những cuộc hành quân càn quét, tấn công vào các căn cứ địa của ta, thành lập quân đội bù nhìn, biển Đông Dương thành căn cứ quân sự phục vụ chiến tranh của chúng.
Tất cả những chính sách của Nhật ở Đông Dương đều nhằm biến Đông Dương thành một thuộc địa, một căn cứ quân sự và là thị trường độc chiếm của Nhật, vì thế nhân dân Đông Dương rất căm thù chúng. Đó chính là nguyên nhân dẫn tới sự bùng nổ Cao trào kháng Nhật cứu nước.
b. Về phía Pháp
* Kinh tế: Thi hành chính sách “Kinh tế chỉ huy” để nắm độc quyền nền kinh tế Đông Dương và vơ vét bóc lột nhiều hơn: tăng thuế, đặc biệt là các loại thuế gián thu (từ năm 1939-1945, thuế rượu, thuế muối, thuế thuốc phiện tăng lên 3 lần); thu mua lương thực, thực phẩm theo lối cường bức với giá rẻ mạt, gây nên nạn đói khủng khiếp cuối năm 1944 đầu năm 1945 ở miền Bắc.
* Chính trị: Thi hành chính sách hai mặt: Một mặt, tiếp tục đàn áp, khủng bố phong trào cách mạng, mặt khác dùng thủ đoạn chính trị lừa bịp hòng làm cho nhân dân ta tưởng lầm chúng là “bạn” chứ không phải là thù.
* Về xã hội: Dưới ách thống trị của Nhật lẫn Pháp, đời sống các tầng lớp nhân dân Đông Dương vô cùng điêu đứng:
- Nông dân: chịu điêu đứng nhất, đói rét nhất. Trong tổng số 2 triệu người chết đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 đa số là nông dân.
- Công nhân: bị thất nghiệp, bị tăng giờ làm, bớt tiền lương, bị cúp phạt, đánh đập.
- Các tầng lớp tiếu tư sản đời sống bấp bênh vì giá sinh hoạt cao, thất nghiệp, thua lỗ sập hiệu... luôn luôn chờ đón họ.
- Giai cấp tư sản, địa chủ (trừ một số có quyền lợi gắn với Pháp, Nhật) cũng bị sa sút hoặc phá sản.
3. Hội nghị Trung ương Đảng lần VIII (5/1941) và việc thành lập Mặt trận Việt Minh
a. Hoàn cảnh lịch sử
* Thế giới: Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã bước sang năm thứ ba, sau khi chiếm phần lớn châu Âu, phát xít Đức chuẩn bị tấn công Liên Xô, Nhật mở rộng xâm lược Trung Quốc, chuẩn bị chiến tranh Thái Bình Dương.
* Trong nước: Nhân dân Đông Dương phải chịu hai tầng áp bức bóc lột của Pháp - Nhật., mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dương với đế quốc, phát xít Pháp – Nhật phát triển gay gắt.
Nhân dân Đông Dương ngày càng cách mạng hóa, nhiều cuộc đấu tranh đã nổ ra, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (9/1940), Nam Kỳ (11/1940) và cuộc Binh biến Đô Lương (1 /1941).
Trước tình hình thế giới và trong nước ngày càng khẩn trương, ngày 28/1/1941 Nguyễn Ái Quốc về nước và triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII, họp từ ngày 10 đến 19/5/1941 tại Pắc Bó (Cao Bằng).
b. Nội dung hội nghị
- Hội nghị xác định kẻ thù của nhân dân Đông Dương lúc này là đế quốc, phát xít Pháp - Nhật và các lực lượng phản cách mạng tay sai của chúng.
- Mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dương với đế quốc - phát xít là mâu thuẫn chủ yếu nhất, vận mệnh của các dân tộc Đông Dương nguy vong không lúc nào bằng. Nguyễn Ái Quốc nói: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm. sau cũng không đòi được”.
- Hội nghị quyết định giương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc để đánh đuổi đế quốc, phát xít Pháp - Nhật.
- Hội nghị chủ trương tiếp tục tạm gát khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của bọn Đế quốc và Việt gian, chia lại ruộng đất công, giảm địa tô.
- Hội nghị khẳng định: Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ của toàn Đảng và toàn dân ta.
- Hội nghị quyết định đặt vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương, song các dân tộc phải đoàn kết, cùng nhau chống kẻ thù chung là Pháp – Nhật, phải liên hệ mật thiết với Liên Xô và các lực lượng dân chủ chống phát xít. Ở mỗi nước thành lập một mặt trận đoàn kết dân tộc. Ở Việt Nam là Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh.
- Hội nghị cử Ban chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Trường Chinh làm tổng bí thư.
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII đã hoàn chỉnh việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, sách lược cách mạng đã đề ra trong Hội nghị trung ương lần thứ VIII ( 11/1939). Nó có tác dụng quyết định trong việc vận động toàn Đảng, toàn dân ta chuẩn bị tiến tới cách mạng tháng Tám.
4. Hoạt động của Mặt trận Việt Minh và vai trò của nó đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945
a. Hoại động của Mặt trận Việt Minh
Mặt trận Việt Minh thành lập ngày 19/5/1941 theo chủ trương của Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, chỉ sau một thời gian ngắn đã có uy tín và gây ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân.
Ngày 25/10/1941, Mặt trận Việt Minh chính thức thông qua Tuyên ngôn trước quốc dân đồng bào.
Mặt trận Việt Minh cũng công bố chương trình cứu nước gồm các chính sách về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm làm cho “Nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân Việt Nam được sung sướng tự do”.
Quá trình chuẩn bị của Mặt trận Việt Minh để tiến tới giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám:
* Xây dựng lực lượng chính trị
- Tại Bắc Sơn - Vũ Nhai: Lực lượng du kích thống nhất thành Cứu quốc quân và phát động chiến tranh du kích trong 8 tháng (từ tháng 7/1941 đến tháng 2/1942) sau đó phân tán thành nhiều bộ phận để gây cơ sở trong quần chúng.
- Tại Cao Bằng: Cao Bằng là nai thí điểm xây dựng các Hội cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh. Đến năm 1942 khắp 9 Châu đều có Hội cứu quốc, ủy ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng và ủy ban Việt Minh liên tỉnh Cao – Bắc - Lạng lập ra 19 ban xung phong “Nam tiến” để phát triển lực lượng cách mạng xuống các tỉnh miền xuôi.
- Ở các nơi khác: Đảng tranh thủ tập hợp nhân dân vào Mặt trận cứu quốc, năm 1943 đưa ra “Bản đề cương văn hóa Việt Nam” và vận động thành lập “Hội văn hóa cửu quốc Việt Nam”.
* Xây dựng căn cứ địa cách mạng
- Tháng 8/1942 hai căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai và Cao Bằng nối liền nhau.
- Lực lượng cách mạng phát triển trong khu vực rộng lớn Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang.
- Đến tháng 6/1945 khu giải phóng Việt Bắc ra đời, là hình ảnh thu nhỏ của một nước Việt Nam mới.
* Xây dựng lực lượng vũ trang và chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang
- Ngày 7/5/1944 Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị “Sửa soạn khởi nghĩa” và kêu gọi nhân dân “sắm sửa vũ khí đuổi thù chung”. Không khí chuẩn bị khởi nghĩa sục sôi trong căn cứ.
- Ngày 22/12/1944 theo Chỉ thị của Hồ Chí Minh, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập và hai ngày sau đã hạ đồn Phay Khát - Nà Ngằn.
- Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, tiếp theo Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Đảng, Mặt trận Việt Minh ra lệnh kêu gọi đồng bào toàn quốc đẩy mạnh Cao trào kháng Nhật cứu nước.
- Tháng 5/1945, sáp nhập “Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” với “Cứu quốc quân” thành “Việt Nam giải phóng quân”.
Đến Cách mạng tháng Tám, Mặt trận Việt Minh đã phát triển rộng khắp, và đóng vai trò quan trọng trong khởi nghĩa giành chính quyền.
b. Vai trò của Mặt trận Việt Minh
- Mặt trận Việt Minh đã tập hợp đông đảo quần chúng hình thành nên lực lượng chính trị đông đảo cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, động viên sức mạnh của cả dân tộc, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, phân hoá và cô lập kẻ thù.
- Trên cơ sở phát triển các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, lực lượng vũ trang cách mạng hình thành và phát triển, cùng với lực lượng quần chúng đông đảo tạo nên sức mạnh tổng hợp nổi dậy giành chính quyền.
Mặt trận Việt Minh là sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một điển hình trong công tác Mặt trận của Đảng.