© 2020 Bài Kiểm Tra.com. All Rights Reserved.

Chủ trương, biện pháp của Đảng và nhà nước nhằm xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng, giữ gìn độc lập dân tộc.

Thứ sáu - 17/11/2017 21:53
Cuộc đấu tranh để xây dựng và bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân (1945 - 1946). Chủ trương, biện pháp của Đảng và nhà nước nhằm xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng, giữ gìn độc lập dân tộc.
Ngày 5/11/1945 Đảng và chính phủ ra chỉ thị: “kháng chiến kiến quốc” nhằm giải quyết nhiệm vụ: “củng cố chính quyền chống thực dân Pháp xâm lược, diệt trừ nội phản cải thiện đời sống nhân dân”. Trên cơ sở đó Đảng và Chính phủ đề ra các biện pháp giải quyết những khó khăn sau Cách mạng tháng Tám.

1. Nạn đói

- Biện pháp trước mắt: Kêu gọi thực hành tiết kiệm nhường cơm, sẻ áo giúp đỡ lẫn nhau, thực hiện “hũ gạo tiết kiệm”, “ngày đồng tâm”.

- Biện pháp lâu dài: Phát động tăng gia sản xuất, đắp đê, khai hoang vỡ hóa. Thực hiện giảm tô 25%, bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý khác. Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc, Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công.

- Kết quả: Chỉ trong một thời gian ngắn sản xuất nông nghiệp được phục hồi, nạn đói lần lượt được đẩy lùi.

2. Nạn dốt

Ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chỉ Minh ký sắc lệnh mờ Nhà bình dân học vụ, phát động phong trào xóa nạn mù chữ trong toàn dân. Đến 03/1945 ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có 3 vạn lớp học với 81 vạn học viên, các trường trung học, tiểu học phát triển mạnh. Nội dung và phương pháp giáo dục bước đầu được đổi mới theo tinh thần dân tộc, dân chủ.

3. Tài chính

- Kêu gọi toàn dân tự nguyện đóng góp cho “Quỹ độc lập” thực hiện “Tuần lễ vàng”.

- Chính phủ ra sắc lệnh phát hành tiền Việt Nam.

- Kết quả:

+ Nhân dân cả nước đóng góp được 20 triệu đồng và 370 kg vàng.
+ Tiền Việt Nam được lưu hành trong cả nước vào ngày 23/11/1946.

4. Nội phản

Vạch trần bộ mặt của bọn phản động, trừng trị các tổ chức phản cách mạng, tay sai của Tưởng, giải tán các Đảng phái phản động như: “Đại việt quốc gia xã hội Đảng'’, “Đại việt quốc dân Đảng”.

5. Bước đầu xây dựng nền móng của chế độ mới:

- “Vấn đề cơ bản của một cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền Nhà nước”. Vì vậy ngày 06/01/1946 tổng tuyển cử bầu cử Quốc hội, với 90% cử tri đi bầu và đã bầu ra được 333 đại biểu.

- Ngày 02/03/1946 Quốc hội thông qua phiên họp đầu tiên danh sách chính phủ chính thức do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

- Sau bầu cử Quốc hội, các địa phương cũng đã tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp theo phổ thông đầu phiếu.

- Đến cuối năm 1946 Hiến pháp đầu tiên của nước ta ra đời.

Như vậy, cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội và Hội đồng nhân dân là thắng lợi có ý nghĩa chính trị to lớn trong việc củng cố khối đoàn kết toàn dân, trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập tự do của tổ quốc. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc góp phần nâng cao uy tín của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc tế.

6. Chống ngoại xâm

Đứng trước tình thế một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, Đảng và Chính phủ ta thực hiện sách lược phân hóa kẻ thù, triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù. Cuộc đấu tranh này diễn ra qua hai thời kỳ:

a. Trước ngày 06/03/1946: Ta chủ trương hòa hoãn với Tưởng để tập trung đánh Pháp ở Nam Bộ.

* Đối với Tướng ở miền Bắc:

+ Nhận cung cấp lương thực và lưu hành đồng Quan kim, Quốc tệ.

+ Nhượng 70 ghế trong Quốc hội và 4 ghế trong chính phủ cho bọn tay sai của Tưởng.

+ Đảng tạm rút vào hoạt động bí mật với “sách lược” tự giải tán, chi để lại một bộ phận hoạt động công khai dưới danh nghĩa là Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác.

Tuy nhiên mọi sự nhân nhượng phải bảo đảm các nguyên tắc sau:

+ Chính quyền được giữ vững.

+ Đảng phải lãnh đạo chính quyền

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đứng đầu Chính phủ.

+ Độc lập chú quyền của đất nước phải được tôn trọng.

Tóm lại: Nhân nhượng với Tưởng là cần thiết, đó là một sách lược đúng đắn, sáng tạo, hòng tập trung lực lượng chống Pháp ở Nam Bộ, giảm bớt khó khăn cho ta, vô hiệu hóa quân Tưởng xâm lược.

* Đối với Pháp ở Nam Bộ:

- Ngày 2-9-1945, khi nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn tổ chức cuộc mít tinh chào mừng ngày độc lập, thực dân Pháp xả súng bắn ra làm 47 người bị chết, nhiều người bị thương.

* Ngày 6-9, quân Anh đến Sài Gòn, chúng yêu cầu ta giải tán lực lượng vũ trang, thả hết tù binh Pháp, trang bị vũ khí cho số quân này và cho số quân Pháp chiếm đóng ở bến tàu, cùng một số nơi khác trong thành phố.

- Đêm 22 rạng sáng 23/9/1945 được sự giúp đỡ của quân Anh, quân Pháp đánh chiếm Sài Gòn mở đầu sự xâm lược nước ta lần nữa.

- Đồng bào Nam Bộ đã kiên quyết đánh trả bọn xâm lược, bằng mọi thứ vũ khí và mọi hình thức ngăn cản không cho thực dân Pháp mở rộng địa bàn chiếm đóng. Nam Bộ xứng đáng là “thành đồng của Tổ quốc”.

- Ngày 5-10-1945, tướng Lơcơléc đến Sài Gòn cùng với đơn vị bộ binh và xe bọc thép mới từ Pháp đưa sang. Có sự hỗ trợ của quân Anh, Nhật, quân Pháp phá vòng vây Sài Gòn, đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ.

- Cuối tháng 10-1945, hội nghị Xứ ủy mở rộng được triệu tập. Sau khi rút kinh nghiệm chỉ đạo kháng chiến, hội nghị quyết định chấn chỉnh tổ chức, tăng cường sự lãnh dạo của Đảng, xây dựng cơ sở bí mật...

- Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến. Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào cả nước đã ủng hộ cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.

- Vấp phải tinh thần chiến đấu của quân dân ta, quân Pháp bị chặn đứng ở nhiều nơi, như Nha Trang, Tuy Hòa, Buôn Ma Thuột. Trong khi đó các tỉnh Nam Bộ và ngay trong thành phố Sài Gòn, quân ta vẫn tiến hành chiến tranh du kích, tạo điều kiện cho cả nước có thời gian chuẩn bị tổ chức kháng chiến lâu dài.

b. Từ 6/3/1946 trở đi (19/12/1946)

Ta chủ trương hòa với Pháp để đuổi Tưởng.
 
* Hiệp định sơ bộ (06/3/1946)

- Hoàn cảnh ký kết: Do Tưởng và Pháp ký kết Hiệp ước Hoa - Pháp vào ngày 28/2/1946 với nội dung:
 
+ Tưởng được Pháp trả một số quyền lợi ở Trung Quốc.

+ Tưởng được quyền vận chuyển hàng hóa từ Hài Phòng lên Vân Nam mà không phải đóng thuế.

+ Pháp được quyền đưa quân ra miền Bắc thay thế cho quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật.

+ Với Hiệp ước Hoa - Pháp đã buộc nhân dân ta phải chọn một trong hai con đường.

Hoặc cầm vũ khí đứng lên chống Pháp khi chúng kéo ra Bắc, đồng thời chống lại cả quân Tưởng.

Hoặc chủ động hòa hoãn với Pháp đề đuổi được 20 vạn quân Tưởng về nước, tranh thủ thời gian để xây dựng lực lượng. Đảng và Chính phù ta đã quyết định chọn giải pháp thứ hai, đó là hòa với Pháp bàng cách kí Hiệp định sơ bộ (6/3/1946).
 
* Nội dung của Hiệp định sơ bộ:
 
- Ngày 6/3/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ ký với Pháp bản Hiệp định sơ bộ với các nội dung cụ thể sau:
 
+ Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ, có nghị viện, có quân đội có tài chính riêng nằm trong khối Liên hiệp Pháp.
 
+ Chính phủ Việt Nam thỏa thuận để cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc thay thế cho quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật và sẽ rút dần trong 5 năm.
Hai bên thực hiện ngừng bẳn ở Nam bộ, tạo không khí thuận lợi cho việc đàm phán chính thức tại Phông-ten-ơblô.
 
* Ý nghĩa việc kí Hiệp định sơ bộ (6/3/1946).
 
- Ta đã nhanh chóng đẩy được quân Tưởng-về nước, tránh được một kẻ thù nguy hiểm, quét được bọn tay sai phản động, tránh được cuộc chiến đấu bất lợi cho ta.
- Tranh thủ thời gian hòa hoãn để củng cố chính quyền xây dựng lực lượng vũ trang chuẩn bị cho chiến đấu lâu dài.
 
- Tạm thời ngăn chặn được âm mưu mở rộng chiến tranh xâm lược ra toàn quốc của thực dân Pháp, buộc Pháp phải công nhận Chính phủ ta.
 
- Hiệp định sơ bộ thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, đã đưa đất nước ta thoát khỏi tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.
 
* Tạm ước 14/9/1946:
 
- Sau khi ký Hiệp định sơ bộ, cuộc đàm phán chính thức của hai chính phủ được tổ chức tại Phông-tên-ơblô kéo dài hai tháng nhưng cuối cùng thất bại. Quan hệ Việt - Pháp trở nên căng thẳng, có nguy cơ xảy ra chiến tranh.
 
- Trước tình hình đó, đề kéo dài thời gian hòa hoãn và tranh thủ xây dựng lực lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Chính phủ Pháp bản Tạm ước 14/9 tiếp tục nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế, văn hóa. Đó cũng là giới hạn cuối cùng của sự nhân nhượng.
 
KẾT LUẬN
 
Việc giải quyết những khó khăn sau Cách mạng tháng Tám chứng tỏ: nhân dân ta rất yêu nước, tin tưởng và gắn bó với chế độ mới, đoàn kết xung quanh Đảng và Chính phủ, phát huy quyền làm chủ đất nước. Đảng và Chính phủ mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra chù trương sáng suốt đưa đất nước ta vượt qua mọi thử thách một cách tài tình, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu lâu dài.
© Bản quyền thuộc về Bài kiểm tra. Ghi rõ nguồn Bài kiểm tra.com khi sao chép nội dung này.

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây