1. Hoàn cảnh lịch sử
- Do liên tiếp bị thất bại nặng nề ở cả hai miền nước ta, lại muốn giành thắng lợi trong cuộc tranh cử Tổng thống vào đầu tháng 11/1972, Nichxơn dùng thủ đoạn lùi bước trong thương lượng với ta ở Pari và xuống thang chiến tranh phá hoại Miền Bắc.
- Đầu tháng 10/1972, phái đoàn Mĩ đến Pari để nối lại cuộc đàm phán đã bị gián đoạn từ tháng 3/1972. Trong cuộc tiếp xúc riêng với đại diện Mĩ ngày 8/10/1972 tại Pari, ta đưa ra dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” và đề nghị thảo luận để đi đến ký kết. Ngày 17/10/1972, văn bản Hiệp định hoàn tất và hai bên thỏa thuận ngày ký chính thức. Để đi đến ký chính thức Hiệp định, ngày 22/10/1972, Nichxơn tuyên bố ngừng mọi hoạt động chống phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra.
- Nhưng sau khi đã trúng cử lại tổng thống (08/11/1972), tập đoàn Nichxơn trở mặt, đòi xét lại văn bản Hiệp định đà được thỏa thuận, đòi ta nhân nhượng.
- Để ép ta nhân nhượng, ký một Hiệp định do Mĩ đưa ra, Nichxơn âm mưu giành một thắng lợi quyết định về quân sự, cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B52 vào Hà Nội và ra Hải Phòng trong 12 ngày đêm cuối 1972 nhằm mục đích đó. Nhưng cuộc tập kích đã bị phá sản hoàn toàn. Thất bại của Mĩ trên chiến trường đã quyết định thất bại của chúng trên bàn thương lượng.
- Sau khi buộc phải chấm dứt hoàn toàn các cuộc ném bom bắn phá và mọi hoạt động chiến tranh chống miền Bắc, Mĩ cử đại diện đến Pari để nối tại cuộc đàm phản. Đứng trên tư thế người chiến thắng, phải đoàn ta tại cuộc đàm phán kiên trì đấu tranh giữ vững nội dung cơ bản của dự thảo Hiệp định đã được thỏa thuận ngày 22/10/1972. Qua nhiều cuộc trao đổi, đến ngày 13/01/1973, bản dự thảo Hiệp định về cơ bản được thỏa thuận.
- Hiệp định Pari về chấm đứt chiến tranh, lập lại Hòa bình ở Việt Nam được ký tất ngày 23/01/1973 giữa đại diện hai chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kì, đến 27/01/1973 thì được ký chính thức giữa bốn bộ trưởng đại diện các chính phủ tham gia hội nghị, tại trung tâm các hội nghị quốc tế ở Pari. Hiệp định bắt đầu có hiệu lực từ 7 giờ sáng ngày 28/01/1973.
2. Diễn biến của Hội nghị
Hội nghị kéo dài gần 5 năm với 202 phiên họp công khai, 24 cuộc tiếp xúc riêng và phải trải qua hai giai đoạn.
* Giai đoạn 1: Từ tháng 5/1968 đến hết 1968
Thành phần của hội nghị là hai bên: đó là đoàn đại biểu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn đại biểu Hoa Kì.
- Lập trường của chính phủ ta là: Mĩ phải chấm dứt hoàn toàn không điều kiện việc ném bom ném phá miền Bắc. Có như vậy chúng ta mới bàn về vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
- Kết quả: Qua hơn nửa năm đấu tranh quyết liệt, ta đã buộc Mĩ phải ngừng ném bom bắn phá miền Bắc.
* Giai đoạn 2: Từ tháng 01/1969 đến 01/1973
Thành phần: 4 bên.
- Đoàn đại biểu Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa.
- Đoàn đại biểu của Mặt trận dân tộc giải phóng. Miền Nam Việt Nam (06/06/1969 thay thế bằng đoàn đại biểu của Chính phủ Lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam).
- Đoàn đại biểu của Hoa Kì.
- Đoàn đại biểu của Việt Nam Cộng hòa (Ngụy).
+ Nội dung của hội nghị: Ta đã đòi Mĩ phải rút quân, phải để cho nhân dân Việt Nam tự quyết định lấy tương lai chính trị của họ.
+ Để làm hậu thuẫn cho hội nghị, quân và dân cà nước đã đẩy mạnh đấu tranh đánh địch trên tất cả các chiến trường.
+ Qua 4 năm đấu tranh với địch ở trong và ngoài hội nghị, ta đã buộc Mĩ - Ngụy phải ký vào các văn bản của hội nghị vào 27/01/1973.
3. Nội dung của Hiệp định
- Hoa Kì và các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
- Mĩ phải rút hết quân Mĩ và quân chư hầu của Mĩ ra khỏi miền Nam trong vòng hai tháng, kể từ ngày ký Hiệp định, dưới sự quan sát của quân đội nhân dân Việt Nam.
- Mĩ cam kết không được dính líu về quân sự, không can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, để cho nhân dân miền Nam tự quyết định tương lai của họ.
- Hai bên trao trả tù binh và dân thường bị bắt trong chiến tranh.
- Mĩ phải có trách nhiệm tham gia đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở hai miền Nam - Bắc Việt Nam và trên toàn Đông Dương.
- Mĩ có trách nhiệm vớt hết bom, mìn, thủy lôi do Mĩ thả xuống phong tỏa các cửa sông, cửa biển ở miền Bắc Việt Nam.
- Các bên công nhận thực tế miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội và hai lực lượng chính trị.
Với những nội dung trên ta đã đạt được hai điều kiện cơ bản: Thứ nhất là Mĩ rút quân; hai là quyền tự quyết của nhân dân miền Nam được tôn trọng.
4. Ý nghĩa
- Đây là thắng lợi lớn của ta. Lần đầu tiên sau 115 năm (1858) đất nước ta sạch bóng quân xâm lược. Tình hình đó đã tạo nên một sự thay đổi lớn về tương quan lực lượng giữa ta và địch. Mĩ rút về nước, trong khi quân đội ta vẫn ở lại Miền Nam, ngụy trở nên bị cô lập. Viện trợ của Mĩ cho ngụy ngày càng bị cắt giảm.
- Miền Bắc có điều kiện thuận lợi để tăng cường chi viện ngày càng lớn cho miền Nam, tạo điều kiện và thời cơ thuận lợi để miền Nam tiến lên giành thắng lợi cuối cùng.
- Hiệp định Pari đã tạo cơ sở pháp lý để ta đánh bại quân địch nếu chúng không thực hiện Hiệp định.
- Thắng lợi của Hiệp định Pari đã nâng dân tộc ta ngang tầm một dân tộc đi tiên phong trong việc chống chủ nghĩa đế quốc và thực dân.