1. Chiến lược “Việt Nam hóa” và “Đông Dương hóa” chiến tranh của Mĩ
- Đầu năm 1969 Nichxơn lên làm tổng thống và đề ra học thuyết Nichxơn, về chính trị là “chiến lược hòa bình” về quân sự là chiến lược “ngăn đe thực tế”, thay thế cho chiến lược “phản ứng linh hoạt” đã bị thất bại.
- Áp dụng học thuyết Nichxơn vào Việt Nam và Đông Dương, quân Mĩ đã cho thực nghiệm “Việt Nam hóa” và “Đông Dương hóa” chiến tranh.
- “Việt Nam hóa” chiến tranh là hình thức chiến tranh thực dân mới của Mĩ được tiến hành bằng quân đội ngụy tay sai, có sự hỗ trợ đáng kể của lực lượng chiến đấu Mĩ, do cố vấn Mĩ chỉ huy với trang bị hỏa lực của Mĩ để chống lại cách mạng và nhân dân miền Nam.
- Thực chất của “Việt Nam hóa” và “Đông Dương hóa” chiến tranh là nhằm làm giảm bớt xương máu của Mĩ trên chiến trường, xoa dịu dư luận của nhân dân Mĩ và nhân dân thế giới, tiếp tục thực hiện chiến tranh xâm lược.
- Để thực hiện kế hoạch này, Nichxơn đã vạch ra một kế hoạch toàn diện.
* Về quân sự và chính trị:
- Rút dần quân Mĩ và quân chư hầu, tăng quân ngụy lên 1 triệu, tăng cường huấn luyện và trang bị cho quân ngụy.
- Tăng cường viện trợ cho Nguyễn Văn Thiệu, giúp Thiệu củng cố chính quyền.
- Tìm mọi cách ngăn cản các nguồn tiếp tế miền Bắc vào miền Nam, mở rộng chiến tranh sang chiến trường Đông Dương, thực hiện “Đông Dương hóa” chiến tranh, gây chia rẽ giữa 3 nước Đông Dương.
* Về kinh tế:
- Tăng cường viện trợ kinh tế, đưa lương thực, thực phẩm vào miền Nam.
- Dồn tất cả 14 triệu đồng bào miền Nam vào vùng chúng kiểm soát thực hiện cái gọi là “viện trợ” cho đồng bào miền Nam.
* Về văn hóa:
Dùng báo chí, phim ảnh để tuyên truyền, xuyên tạc cách mạng, làm cho thanh niên miền Nam quên đi nỗi nhục mất nước, sẵn sàng đi lính cho Mĩ.
* Về ngoại giao:
- Lợi dụng mâu thuẫn trong các nước xã hội chủ nghĩa đặc biệt là mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc để gây sức ép với ta, cô lập ta.
- “ Việt Nam hóa” chiến tranh là một kế hoạch chiến tranh toàn diện nhưng kế hoạch này cũng chỉ là sản phẩm của thế thua, thế thất bại nên ngay từ đầu nó đã chứa đựng nhiều mâu thuẫn và mang nhiều mầm mống của sự thất bại.
2. Miền Nam đấu tranh chống “Việt Nam hóa” chiến tranh và “Đông Dương hóa” chiến tranh của Mĩ.
- Thừa thắng trong chiến lược chiến tranh cục bộ, Trung ương Đảng quyết định tiếp tục chiến lược tấn công, kiên quyết đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh của Mĩ.
- Thắng lợi chính trị: Mở đầu là ngày 6/6/1969 chính phủ Cách mạng Lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Vừa mới ra đời. Cộng hòa miền Nam Việt Nam được 23 nước công nhận, trong đó có 21 nước đặt quan hệ ngoại giao.
- Năm 1969 quân dân miền Nam mở cuộc tấn công chiến lược trên toàn miền Nam, liên tục đánh vào các vị trí, các căn cứ quân sự, các cơ quan, các kho tàng của địch.
- Trong 2 ngày 24 và 25/4/1970, đại diện ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia tiến hành Hội nghị cấp cao khẳng định quyết tâm đoàn kết chiến đấu chống Mĩ của nhân dân ba nước.
- Cũng trong thời gian trên phối hợp chiến đấu, quân dân 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia đã đập tan cuộc hành quân xâm lược của 10 vạn quân Mĩ Ngụy, đập tan cuộc hành quân lấn chiếm cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (Lào).
Từ 12 đến 23/3/1971 quân dân ta có sự hỗ trự và phối hợp chiến đấu của quân dân Lào đã đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của 4,5 vạn quân Mĩ Ngụy tại đường 9 Nam Lào.
* Khắp các đô thị miền Nam phong trào của các tầng lớp nổ ra liên tục, đặc biệt tại các thành phố lớn như: Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, phong trào học sinh, sinh viên nổ ra rầm rộ, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia: “Xuống đường” “Dậy mà đi”.
- Tại các vùng nông thôn, đồng bằng, rừng núi, ven thị... phong trào quần chúng nôi dây phá “ấp chiến lược”, chống “bình định” của Mĩ ngụy.
3. Cuộc tiến công chiến lược 1972
Phát huy thắng lợi trên các mặt trận quân sự, chính trị trong hai năm 1970 - 1971 quân dân ta đã mở cuộc tiến công chiến lược bắt đầu từ 30/03/1972. Mở đầu đánh vào Quảng Trị, lấy Quảng Trị làm hướng tấn công chủ yếu, từ Quảng Trị phát triển khắp chiến trường miền Nam. Đây là một cuộc tiến công với quy mô lớn và cường độ mạnh.
Sau đòn bất ngờ, quân ngụy với sự yểm trợ của hỏa lực, không quân, hải quân Mĩ, đã phản công lại gây cho ta một số thiệt hại. Lúc đó Mĩ gây trở lại chiến tranh phá hoại miền Bắc trong 12 ngày đêm.
* Kết quả: Sau gần 3 tháng chiến đấu (6/1972) quân dân ta đã giành thắng lợi to lớn, loại khỏi vùng chiến đấu 10 vạn quân Mĩ - Ngụy, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn hơn một triệu dân.
* Ý nghĩa:
Cuộc tiến công chiến lược 1972 đã tạo một bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mĩ, đã giáng một đòn mạnh vào quân ngụy (công cụ chủ yếu) vào quốc sách bình định (xương sống) của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” làm cho chiến lược Việt Nam hóa bị thất bại.