© 2020 Bài Kiểm Tra.com. All Rights Reserved.

Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Thứ hai - 25/10/2021 10:23
Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là một nhà thơ lớn của dân tộc. Ông để lại cho đời sau gần 1000 bài thơ chữ Hán và chữ Nôm trong hai tập Bạch Vân Am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi.
Về thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phan Huy Chú nhận xét: Văn chương ông tự nhiên, nói ra là thành không cần gọt giũa, giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà có ý vị, đều có quan hệ đến việc dạy đời.

Lời nhận xét trên rất xác đáng, đặc biệt là đôi với Nhàn, một bài thơ tiêu biểu cho triết lí nhân sinh, tâm tư và sở thích cá nhân của tác giả:

Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, 
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Theo Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II (thế kỉ X - thế kỉ XVII), NXB Văn hóa, Hà Nội, 1962)

Đây là một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật, cũng là những vần thơ nói ra là thành không cần gọt giũa, giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà có ý vị. Bài thơ thể hiện rõ quan niệm sống nhàn của tác giả: nhàn là biết sống hòa hợp với tự nhiên, biết phủ nhận danh lợi để giữ cốt cách mình được thanh cao.

Nhịp điệu của bài thơ biến hóa, bộc lộ cái cốt cách tư tại, ung dung, điềm tĩnh của tác giả. Hai câu đề mở đầu bài thơ là công việc nhàn hạ và cuộc sống thuần hậu của thi nhân:

Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

Cáo quan về ẩn cư ở quê, Nguyễn Bỉnh Khiêm sống như một lão nông tri điền điềm tĩnh và tự tại khi làm vườn, khi đi câu thơ thẩn giữa tạo vật đất trời với những công cụ lao động rất đỗi thông thường là mai, cuốc, cần câu. Phép liệt kê với cách dùng số đếm Một, một....., một.... rõ ràng rành rọt cho người đọc cái cảm giác như thể mọi thứ đều đã đủ đầy, sẵn sàng và chu đáo.

Hai chữ thơ thẩn thể hiện trạng thái thảnh thơi của con người “vô sự”, “vô ưu”, lòng luôn thanh thản. Cụm từ dầu ai vui thú nào cho thấy ý thức lối sông mình đã lựa chọn.

Hai câu đề diễn tả được cái phong thái thanh thản ung dung của bậc ẩn cư nhàn dật. Ai là đại từ phiếm chỉ để nói về người sử dụng ở đây ngầm ý chỉ mình đọc lên nghe sao mà thú vị.

Tiếp nối là hai câu thực đôi chiếu hai cách sống:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao.

Đối lập với nơi vắng vẻ là chốn lao xao. Đối lập với ta là người. Nơi vắng vẻ chính là cảnh nhàn, nơi thuần hậu nước biếc non xanh, không chen chúc cầu cạnh lợi danh, cũng là nơi tâm trí lâng lâng thanh thản. Chốn lao xao là chốn ngựa xe tấp nập, đủ đầy yến tiệc, kẻ hạ người hầu nhưng cũng lắm bon chen thủ đoạn, luồn cúi và sát phạt nhau. Ta ở đây là tác giả. Người là đám vua chúa quan chức khi đó.

Tự nhận mình là dại, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất tự tại, đối lập với lợi danh, lấy cuộc nhàn du giữa nước biếc non xanh làm vui thú. Tâm tình đó đã thót nên lời ngay từ đầu bài thơ Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Niềm vui thú vừa nói hiện lên không chỉ trong bước thơ thẩn mà còn lan tỏa chi phối đến cả âm điệu của toàn thể bài thơ.

Hai câu luận tiếp theo nói đến sinh hoạt của tác giả:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Trong cảnh nhàn, về với thiên nhiên, sống thuận hòa cùng tự nhiên, sinh hoạt hằng ngày hằng năm của Tuyết Giang Phu Tử bao giờ cũng bình dị đơn sơ mùa nào thức đó. Măng trúc, những thức ăn quê mùa dân dã, đạm bạc mà thanh cao vì đây là cây nhà lá vườn do chính tự công sức mình làm nên. Ăn là vậy, còn ở, còn sinh hoạt? Thì cũng tắm hồ, tắm ao như bao kẻ mộc mạc chân quê khác, chẳng hề bận rộn những đòi hỏi, phiền toái cầu kì.

Tùy mùa, tùy thời, mùa nào thức ấy, cuộc sống thi nhân tuy đạm bạc mà không khổ hạnh, tuy bình dị mà thanh cao. Hai câu luận làm thành một bộ tranh tứ bình có đủ cả bốn mùa xuân hạ thu đông với các cảnh sinh hoạt thụ hưởng gồm đủ mùi vị sắc hương mà lại hết sức thanh thoát, nhẹ nhàng, thanh cao mà đạm bạc.

Rượu, đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Ngày xưa, Thuần Vu Phần uống rượu say nằm mộng dưới gốc cây, bừng giấc mộng, tỉnh dậy hiểu ra phú quý chỉ là một giấc chiêm bao. Còn Nguyễn Bỉnh khiêm, rượu đến gốc cây, Người sẽ uống. Người chẳng cần say, không cần vào mộng, tỉnh thức mà vẫn xem phú quý tựa chiêm bao. Đủ thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm đúng là một bậc thức giả với trí tuệ vô cùng tỉnh táo, với nhãn quan tỏ tường, cách nhìn thông tuệ. Ông đã lựa chọn thái độ từ bỏ "chốn lao xao” quyền quý để đến với “nơi vắng vẻ” sống đạm bạc mà thanh cao.

Quan niệm nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là sống hòa hợp với tự nhiên, đối lập với danh lợi, giữ cốt cách thanh cao. Tuy có nhàn thân nhưng chẳng nhàn tâm. Tuy nhàn nhưng vẫn một lòng ưu ái với đời khác hẳn với lối sống nhàn độc thiện kì thân (làm tốt cho riêng mình). Chữ nhàn trong thơ Tuyết Giang phu Tử cũng là chữ nhàn của Chu Văn An, của Nguyễn Trãi...ngày nào.

Như thế, Nhàn là một bài thơ điêu luyện. Từ ngữ rất mực bình dị vì phần lớn là thuần Việt. Giọng điệu bài thơ khoan thai, hình ảnh cô đọng, đối ngẫm chặt chẽ. Đây là tác phẩm đánh dấu một bước tiến của thơ Nôm Đường luật nước ta ở thế kỉ XVI.

Qua bài thơ này ta cảm nhận được vẻ đẹp cuộc sống và nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Cuộc sống đạm bạc hòa hợp với tự nhiên, nhân cách thanh cao, trí tuệ sáng suốt và uyên thâm rất mực.

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây