Thơ Việt Nam có rất nhiều thể loại: ngụ ngôn, lục bát, song thất lục bát, đường luật, thơ tự do... Nhưng trong tất cả các thể loại ấy quen thuộc nhất là lục bát, nó đã đi sâu vào tâm hồn người Việt Nam và trở thành máu thịt. Thơ lục bát có những đặc điểm sau đây:
về thời gian: lục bát là thể thơ cổ truyền của dân tộc đã có từ rất lâu, nó đã ăn sâu bắt rễ trong nhân dân, thể hiện rõ tính dân tộc của thơ Việt Nam.
Về số tiếng, số dòng: gọi là lục bát vì có hai câu đi liền nhau câu 6 tiếng và câu 8 tiếng, khi trình bày câu lục thụt vào một ít so với câu bát. Số dòng trong thơ lục bát không bị hạn định có thể kéo dài vô tận miễn tuân thủ đúng quy định. Áng thơ lục bát hay nhất và được nhiều bạn đọc yêu thích nhất phải kể đến “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du.
Về gieo vần: thể thơ lục bát vừa gieo vần chân vừa gieo vần lưng, tiếng cuối cùng của câu lục gieo vần xuống tiếng thứ sáu câu bát, tiếng thứ sáu câu bát gieo với tiếng cuối câu lục tiếp theo.
Về luật bằng trắc: hình mẫu của câu thơ lục bát cổ điển được phối điệu như sau.
O b o tr o b
O b o tr o b o b
O b o t o b
O b o t o bo b
Trong đó: b là bằng, tr là trắc, o là tự do (hoặc bằng, trắc) tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám của câu bát cùng là thanh bằng nhưng bắt buộc phải là một trầm (thanh huyền) và một bổng (thanh ngang).
Về ngắt nhịp: thông thường là ngắt nhịp chẵn, mỗi nhịp hai tiếng hoặc bốn tiếng (câu bát). Tuy vậy, có thể gặp lối ngắt nhịp lẻ mỗi nhịp ba tiếng khi trong câu có tiểu đối.
Ví dụ: Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Ngày nay, trong thơ ca Việt Nam hiện đại thơ lục bát vẫn chiếm vị trí quan trọng, được nhiều nhà thơ sử dụng và quần chúng yêu thích.