© 2020 Bài Kiểm Tra.com. All Rights Reserved.

Những Âm mưu, kế hoạch của đế quốc của Pháp - Mĩ.

Thứ hai - 20/11/2017 04:44
Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến trong những năm 1951 - 1953. Những Âm mưu, kế hoạch của đế quốc của Pháp - Mĩ.
Sau chiến dịch Biên giới 1950, để tiếp tục chiến tranh ở Đông Dương Pháp ngày càng dựa vào Mĩ nhiều hơn. Pháp cử đại tướng Đơ lát Đờ Taxinhi sang làm tổng chỉ huy quân viễn chinh của Pháp ở Đông Dương, kiêm chức Cao ủy Pháp. Đơ lát Đờ Taxinhi đưa ra kế hoạch mới gồm 4 điểm:
 
+ Gấp rút tập trung quân Âu – Phi, ra sức xây dựng một lực lượng cơ động mạnh, phát triển ngụy quân.

+ Lập tuyến phòng phủ “Boong ke”, “vành đai trắng” bao quanh trung du và Đồng bằng Bắc Bộ.

+ Tiến hành chiến tranh tổng lực, gấp rút bình định vùng tạm chiếm.

+ Đánh phá các căn cứ, hậu phương của ta để giành lại quyền chủ động về chiến lược.

- Để thực hiện kế hoạch trên, thực dân Pháp đã bắt người, cướp của gây khó khăn cho ta, nhất là vùng sau lưng địch.

2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần III của Đảng (2/1951)
* Hoàn cảnh.

- Sau chiến thắng Biên giới, cuộc kháng chiến của ta bước sang thời kỳ đổi mới. Ta chủ động đánh địch trên chiến trường chính, còn Pháp có sự giúp đỡ của Mĩ đã cố gắng giành lại chính quyền chủ động. Cuộc chiến tranh càng trở nên gay go, quyết liệt, do đó cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng.
 
- Trong hoàn cảnh đó; Đảng đã tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần II tại Chiêm Hóa (Tuyên Quang) từ 11 đến 19/2/1951

* Nội dung Đại hội:

- Đại hội đã thảo luận và thông qua báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng do Hồ Chí Minh trình bày. Báo cáo nêu rõ:

+ Thành tựu, kinh nghiệm của cách mạng thế giới trong nửa đầu thế kỷ XX.

+ Kinh nghiệm đấu tranh của Đảng qua các chặng đường Cách mạng.

+ Phê phán những tư tưởng sai lầm đã nảy sinh trong quá trình kháng chiến.

+ Xác định nhiệm vụ cụ thể của Cách mạng lúc bấy giờ.
 
- Thảo luận và thông qua báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam” do đồng chí Trường Chinh trình bày. Báo cáo nêu rõ đường lối cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và tiến lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

- Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên mới là Đảng Lao Động Việt Nam. Hai nước Lào, Campuchia phải xây dựng ở mỗi nước một Đảng.

- Đại hội cũng qua thảo luận và quyết định nhiều chính sách cơ bản về các công tác xây dựng chính quyền, mặt trận, quân đội, tài chính.... 

- Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành Trung ương Đảng do Hồ Chi Minh làm chủ tịch Đảng và đồng chí Trường Chinh làm tổng Bí thư.

* Ý nghĩa:

- Đại hội đã đánh dấu mốc quan trọng trong qui trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta.

- Việc đưa Đảng ra hoạt động công khai với cương lĩnh chính trị đúng đắn đã tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng, tăng cường niềm tin của quần chúng đối với Đảng, có tác dụng thúc đẩy kháng chiến tiến lên giành những thắng lợi ngày một cao hơn.

3. Củng cố hậu phương và phát triển kháng chiến

Sau chiến dịch Biên giới thu- đông 1950, cuộc kháng chiến của nhân dân ta có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Nhu cầu cung cấp về nhân tài, vật lực cho tiền tuyến ngày càng cao hơn, đòi hỏi không ngừng tăng cường sức mạnh của hậu phương kháng chiến.

+ Ngày 3-3-1951, đại hội thống nhất mặt trận Việt Minh và Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam được tổ chức để thành lập mật trận duy nhất, lấy tên là mặt trận Liên Việt. Khối đoàn kết toàn dân được củng cố và tăng cường.

+ Năm 1952, cuộc vận động sản xuất và tiết kiệm được phát động đã thực sự trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi, lôi cuốn mọi ngành, mọi giới tham gia.

+ Ngày 1-5-1952, Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất đi họp tổng kết và biểu dương những thành tích rực rỡ của phong trào thì đua toàn quốc trong những năm qua.

+ Để bồi dưỡng sức dân, năm 1953, Đảng và Chính phủ chủ trương phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức và cải cách ruộng đất.

+ Công tác đấu tranh kinh tế với địch cũng được chú trọng, nhằm đánh bại chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của địch.

+ Sự nghiệp văn hóa- giáo dục được chú trọng. Thực hiện cải cách giáo dục năm 1950. Phong trào Bình dân học vụ và Bổ túc văn hóa tiếp tục phát triển, Công tác vận động vệ sinh phòng dịch, thực hiện đời sống mới ngày càng lan rộng và ăn sâu trong nhân dân.

4. Quân ta giữ vững, phát triển quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính (1951-1953)

- Các lực lượng của ta đã chủ động tiến công địch ở cả Trung du và đồng bằng Bắc Bộ.

- Chiến dịch Trung du (Trần Hưng Đạo) (12/1950 đến 1/1951) ta đánh vào khu vực Vĩnh Yên, Phúc Yên tiêu diệt nhiều cứ điểm quan trọng của địch.

- Chiến dịch Đường số 18 (Hoàng Hoa Thám) (3/1951 đến 4/1951) ta đánh: vào hệ thống, phòng ngự của địch từ Phả Lại qua Đông Triều đến Quảng Ninh, )Hòn Gai, Uông Bí.

- Chiến dịch Quang Trung (Hà Nam Ninh) (5 đến 6/1951) ta tấn công địch ở Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình.

- Chiến dịch Hòa Bình:

+ Về Phía địch: Từ 9 đến 14/11/1951, Đờlát tập trung 20 tiểu đoàn mở chiến dịch Lôtuo ra thị xã Hòa Bình. Địch dùng một bộ phận nhảy dù xuống Chợ Bến, Xuân Mai. Đồng thời cho hai cánh quân bộ thủy theo đường số 6 và sông Đà tiến ra thị xã Hòa Bình.

+ Về phía ta: Ta xác định, địch đánh ra Hòa Bình là cơ hội để ta tiêu diệt chúng, vì thế ta quyết định mở chiến dịch Hòa Bình. Các lực lượng của ta đã tiến hành vây hãm và tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch. Toàn bộ thị xã Hòa Bình bị bao vây trong “vành đai lửa”.
 
Sau 3 tháng chiến đấu, quân dân ta đã giành được thắng lợi to lớn. Đến 23/2/1952 toàn bộ quân địch đã phải rút chạy khỏi Hòa Bình. Ta tổ chức truy kích và tiêu diệt thêm một bộ phận sinh lực địch.
 
- Chiến dịch Tây Bắc: Vào tháng 10/1952 ta mở chiến dịch Tây Bắc, tiêu diệt nhiều cứ điểm quan trọng của địch ở Nghĩa Lộ, giải phóng toàn tỉnh Nghĩa Lộ, gần hết tỉnh Sơn La và một phần tỉnh Lai Châu. Đến cuối 12/1952 chiến dịch Tây Bắc kết thúc thắng lợi.

- Chiến dịch Thượng Lào: tháng 4/1953 Bộ đội ta phối hợp với quân giải phóng Pathét Lào mở chiến dịch Thượng Lào, giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần Xiêng Khoảng và Phong Xalì, với trên 30 vạn dân. Khu giải phóng Thượng Lào được mở rộng tình đoàn kết chiến đấu Việt-Lào ngày càng bền vững.
 
-Nhìn chung từ sau Biên giới Thu đông 1950 đến 1951 - 1953:

+ Ta đã giành, giữ và phát triển quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường ở Bắc Bộ.

+ Ta tiêu hao thêm nhiều sinh lực địch giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn.

+ Lực lượng của ta ngày càng lớn mạnh với ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích.
© Bản quyền thuộc về Bài kiểm tra. Ghi rõ nguồn Bài kiểm tra.com khi sao chép nội dung này.

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây