1. Đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch
- Thất bại trong chiến dịch Việt Bắc, địch tăng cường thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Chúng rải quân đóng đồn bót nhiều nơi, tiến hành những cuộc càn quét ở vùng tạm chiếm, ra sức bắt người, cướp của. Chúng ra sức mở rộng địa bàn chiếm đóng.
- Trước tình hình đó, Đảng và Chính phủ chủ trương phát động chiến tranh du kích ở vùng tạm chiếm.
- Kết quả của chiến tranh du kích ở cùng sau lưng địch:
+ Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ, quân dân ta đã đẩy mạnh các hoạt động trừ gian, diệt ác, vận động ngụy binh, bao vây đồn địch.
+ Dân quân du kích còn ra sức chống càn, bảo vệ làng mạc. Quần chúng nhân dân phát huy nhiều sáng kiến đánh địch. Nhiều đội du kích dựa vào làng chiến đấu đã chống những trận càng lớn của địch như làng Cự Nam, Cảnh Dương (Quảng Binh), làng Việt Lại (Sơn Tây), đội du kích Lê Hồng Phong (Bình - Trị - Thiên)...
+ Cùng với việc đẩy mạnh chiến tranh du kích, bội đội chủ lực tích cực tập đánh vận động thu được nhiều tháng lợi lớn như: trận Nghĩa Lộ (18/3/1948), trận Yên Bình (1/6/1948)...
+ Phối hợp với các hoạt dộng quân sự, phong trào đấu tranh của quần chúng ở các thành phố và khu công nghiệp cũng phát triển như ở Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn - Chợ Lớn v.v...
- Ý nghĩa của việc đẩy mạnh chiến tranh du kích ở cùng sau lưng địch:
+ Duy trì, củng cố và phát triển lực lượng kháng chiến của ta.
+ Tiếp tục xây dựng và bào vệ hậu phương kháng chiến của ta.
+ Làm rối loạn hậu phương của địch, góp phần làm phá sản chính sách “Dùng Người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của thực dân Pháp.
2. Củng cố chính quyền, xây dựng kinh tế kháng chiến, phát triển văn hóa, giáo dục, xã hội
* Về chính trị:
+ Đảng và Chính phủ đặc biệt chú trọng tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chính quyền dân chủ nhân dân từ trung ương đến cơ sở, kiên quyết đấu tranh
chống âm mưu thành lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại.
+ Củng cố và mở rộng khối đoàn kết toàn dân là nhiệm vụ quan trọng được Đảng hết sức quan tâm. Đến năm 1948, cả hai mặt trận Việt Minh và Liên Việt đều thu hút đông đảo quần chúng.
+ Công tác vận động đồng bào miền núi, đồng bào công giáo, bà con người Hoa, quần chúng trong vùng địch tạm chiếm, công tác vận động ngụy binh... được coi trọng.
* Về kinh tế:
+ Đấu tranh kinh tế với địch để bảo vệ mùa màng; kiểm soát chặt chẽ việc giao lưu hàng hóa giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm; ra sức xây dựng nền kinh tế tự cấp, tự túc.
+ Tăng cường bồi dưỡng sức dân, nhất là nông dân bằng cách giảm tô 25%, cấp ruộng đất của thực dân Pháp, Việt gian và ruộng đất vắng chủ cho nông dân. Năm 1950, có sắc lệnh giảm tức, xóa nợ, hoàn nợ của nông dân vay địa chủ.
+ Cơ sở công nghiệp quốc phòng được xây dựng khá nhiều, với qui mô vừa là nhỏ ở khắp các vùng tự do và chiến khu. Đến 1949, cả nước có 130 xưởng sản xuất vũ khí, 21 cơ sở quân dược, 20 cơ sở sản xuất quân nhu...
* Về văn hóa, giáo dục:
+ Xây dựng nền văn hóa mới theo phương châm: dân tộc, khoa học, đại chúng.
+ Năm 1948, Hội nghị văn hóa toàn quốc được triệu tập, Hội nghị đã thông qua báo cáo của đồng chí Trường Chinh: “Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và vấn đề văn hóa Việt Nam”.
+ Phong trào chống mù chữ tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Chương trình giáo dục phổ thông bắt đầu được cải tiến.
+ Công tác phát triển y tế, thực hiện vệ sinh phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho nhân dân cũng được chú trọng.
- Tác dụng:
+ Bộ máy chính quyền của ta ở các cấp được củng cố và xây dựng góp phần to lớn trong việc tổ chức, lãnh đạo kháng chiến thắng lợi và làm phá sản hệ thống chính quyền bù nhìn tay sai của địch.
+ Chính sách kinh tế đã góp phần cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm nhu cầu cho kháng chiến lâu dài.
+ Các chính sách văn hóa, giáo dục, y tế có tác dụng xây dựng cơ sở văn hóa của chế độ dân chủ nhân dân.
+ Tất cả các thành tựu đó có tác dụng củng cố và tăng cường hậu phương kháng chiến, là nhân tố quyết định thường xuyên đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến.