© 2020 Bài Kiểm Tra.com. All Rights Reserved.

Hướng dẫn soạn Văn 11, Bài ca ngất ngưởng

Thứ ba - 24/09/2019 14:42
Hướng dẫn soạn Văn 11, Bài ca ngất ngưởng. Tóm tắt tác giả, tác phẩm và trả lời câu hỏi sách giáo khoa Ngữ Văn 11.

1. Tác giả, tác phẩm:
- Tác giả: Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858), biệt hiệu là Hi Văn xuất thân trong một gia đình Nho học. Ông là người có tài, thi đỗ, làm quan, lập nhiều công cho nhà Nguyễn, đặc biệt là lập những huyện mới như Kim Sơn, Tiền Hải (Thái Bình), nhưng con đường làm quan không bằng phẳng, thăng chức và giáng chức thất thường. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đó, ông vẫn có thái độ ngông nghênh, coi thường danh lợi.
- Quá trình sáng tác: Nguyễn Công Trứ sáng tác hầu hết bằng chữ Nôm. Thể loại ưa thích của ông là hát nói. Ông là người đầu tiên đã đem đến cho thể loại này một nội dung phù họp với chức năng và cấu trúc của nó.

2. Trả lời câu hỏi SGK
Câu 1. Trong Bài ca ngất ngưởng có mấy lần từ “ngất ngưởng” được sử dụng. Anh (chị) hãy xác định nghĩa của từ “ngất ngưởng” qua các văn cảnh sử dụng nó.
Theo tác giả, sở dĩ ông có thái độ sống ngất ngưởng là vì ông hơn người. Nói hơn người là nói hơn những kẻ có quyền thế, quan cao chức trọng, nhưng Ruột gan không có, có gai chông. Trong Bài ca ngất ngưởng, có ba lần từ “ngất ngưởng” được sử dụng.
- Trong khổ thứ nhất, tác giả tự cho rằng cái “hơn người” của ông là ở tài năng, là đa tài, việc gì ông cũng làm được, từ văn tới võ: Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
- Trong khổ thứ hai, tác giả cho rằng mình hơn người không chỉ có quyền chức cao sang, mà còn hơn người là dám sẵn sàng treo ấn từ quan, và sống ngang tàng cả khi chỉ làm một người dân thường. Tuy nhiên, là một người đã từng ngang dọc trong trời đất, bằng sự trải nghiệm của cuộc đời, ông đã nhìn nhận ra tất cả những gì là quan trọng, vững bền. Không hẳn ông đã phủ định công tích của mình nhưng ông đã nhìn nó với cái nhìn có phần  khinh  bạc: Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
- Trong khổ thứ ba, Nguyễn Công Trứ khẳng định cái hơn người của ông là dám đổi thay, thích nghi với hoàn cảnh, từ một viên tướng “tay kiếm cung” oanh liệt, có thể bỗng hiền lành như một kẻ tu hành, nhưng còn “hơn người” là dám đem theo cả gái hầu vào chốn chùa chiền.
- Tổng kết cuộc đời mình, ông đã khẳng định về những việc làm với một trang nam nhi: “kinh bang tế thễ” và đạo nghĩa vua tôi. Do đó, ông buông một câu chắc nịch: Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
- Từ “ngất ngưởng” ở câu cuối cùng là sự đánh giá của ông về con người mình một cách toàn diện. Ông khẳng định rằng hai điều quan trọng nhất với kẻ nam nhi là “kinh bang tế thế” và đạo nghĩa vua tôi. Điều đáng chú ý là dù ở vị trí nào, ông cũng sống hết mình, cũng biết tìm cho mình những niềm vui sống, vẫn làm sao để cuộc sống có ý nghĩa nhất.
Cuộc sống có ý nghĩa ở đây là được thảnh thơi thưởng ngoạn vẻ đẹp của thiên nhiên, thăm viếng chùa chiền. Nhưng dù có say mê thiên nhiên kì thú, có gắn bó với cửa Phật từ bi thì ông cũng vẫn không quên nhu cầu hưởng thụ, không từ bỏ những thích thú trong cuộc sống đời trần thế. Đó cũng là một thái độ ngất ngưởng, khiến Bụt cũng phải nực cười...
- Nhưng dù có đam mê thị thưởng thức, hay hưởng thụ hạnh phúc cá nhân, theo ông, vẫn phải ở giữ được phẩm chất của con người, phẩm chất của kẻ sĩ, mà cao nhất là lòng trung thành với nhà vua, với triều đình. Phải dung hòa được cả bổn phận và quyền lợi phục vụ và hưởng thụ thì mới là kẻ dám ngất ngưởng nhất trên đời.

Câu 2. Dựa vào văn bản Bài ca ngất ngưởng, anh (chị) hãy giải thích vì sao Nguyễn Công Trứ biết rằng việc làm quan là gò bó, mất tự do (vào lồng) nhưng vẫn ra làm quan.
Nguyễn Công Trứ biết rõ làm quan là mất tự do (vào lồng). Nhưng ông vẫn ra làm quan vì với ông công danh là lẽ sống. Làm trai, theo ông là đứng trong trời đất nhưng “phải có danh gì với núi sông”. Đó là lẽ sống của những nhà nho dấn thân hành đạo. Công danh với ông không chỉ là vinh mà còn là nợ, là trách nhiệm. Ông tự nguyện “dấn thân”, tự nguyện đem tự do, tài hoa nhốt vào vòng trói buộc.

Câu 3. Ở bài hát nói này, Nguyễn Công Trứ tự kể về mình. Vì sao ông cho mình là ngất ngưởng? Ông đánh giá sự ngất ngưởng của mình như thế nào?
Thông thường, từ ngất ngưởng dùng để chỉ một sự vật ở tư thế nghiêng ngả, lắc lư, không vững đến mức chực ngã (Từ điển tiếng Việt). Những ý nghĩa đó không phù hợp cho việc nhận thức thái độ sống của Nguyễn Công Trứ. Bài ca ngất ngưởng là một bản tự đánh giá, tự kể về cuộc đời mình của Nguyễn Công Trứ. Và đặc biệt, cả cuộc đời, nhìn lại, ông đã tự đánh giá mình chỉ bằng một từ: ngất ngưởng!
- Ngất ngưởng được thể hiện rõ khi ông đang làm quan: Ông tự khen mình, tự đánh giá cao về tài năng, nhân cách và cả phong cách cá nhân của mình trong thời gian ở cương vị mà những con người thiếu bản lĩnh rất dễ bị tha hóa quyền cao chức trọng.
- Ngất ngưởng được thể hiện rõ khi ông cởi mũ, áo nghỉ quan. Ngay trong hoàn cảnh ấy, ông vẫn giữ cách sống cao ngạo, khinh bỉ. Điều đó thể hiện qua hành động: Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
- Tổng kết cuộc đời mình, ông đã khẳng định về những việc lớn với một trang nam nhi: “kinh bang tế thế” và đạo nghĩa vua tôi. Do đó, ông buông một câu chắc nịch: Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

Câu 4. Đọc diễn cảm bài hát nói này. Hãy chỉ ra những nét tự do của thể tài hát nói so với thơ Đường luật và cho biết ý nghĩa của tính tự do đó.
Hát nói là một điệu thức chủ đạo trong hơn bốn mươi điệu thức của ca trù. Nó ra đời trên cơ sở kế thừa những truyền thống của văn nghệ dân gian và tiếp thu từ khúc Trung Hoa. Theo Bùi Văn Nguyên, “gọi là hát nói vì trừ những câu mưỡu, câu hãm cuối bài và những đoạn ngâm thơ, thì thể này là một thể nửa hát nửa nói, có tính cách kể chuyện”. Bài hát nói có sự chuyển hoá linh hoạt giữa các câu thơ dài ngắn khác nhau, thường là bảy chữ và tám chữ. Số câu trong bài hát nói cũng không cố định, thường dao động từ bảy câu (loại thiếu khổ) đến hai mươi ba câu (loại dôi khổ), phổ biết nhất là bài có mười một câu (loại đủ khổ). Câu kết của mỗi bài hát nói bao giờ cung là một câu sáu chữ, có vị trí hết sức quan trọng, như một “mã” thể loại, có nhiệm vụ khép lại lời ca, nhưng lại như mở ra một không gian mênh mang, đầy uẩn khúc, bí ẩn. Đây là một thể loại hỗn hợp, dùng để diễn xướng, gắn với âm nhạc. Nó gồm cả thơ, cả nhạc, và cả nói. Vì thế, gọi là hát nói. Hát nói là một hình thức nghệ thuật đặc biệt phù hợp cho việc diễn tả tâm trạng của các nghệ sĩ tài hoa, tài tử, ngông nghênh, phá phách thời kì này.
- Hát nói có hai dạng, dạng chính cách, loại đủ khổ (ba khổ, mười một câu) và dạng biến cách, loại thiếu khổ (hai khổ, bảy câu) và dôi khổ (bốn đến sáu khổ, mười lăm đến hai mươi ba câu). Loại biến cách chỉ thiếu hoặc dôi các khổ giữa, không được thiếu hoặc dôi khổ đầu hay khổ xếp. Bài ca ngất ngưởng thuộc dạng biến cách, loại dôi khổ, cụ thể dôi hai khổ giữa, mỗi khổ bốn câu, tổng số có mười chín câu cả bài.

3. Luyện tập
Bài tập: Theo anh (chị), so với Bài ca phong cảnh Hương Sơn (bài đọc thêm, trang 50), Bài ca ngất ngưởng có sự khác biệt gì về mặt từ ngữ?
Cả hai bài đều làm theo thể hát nói tuy nhiên ở Bài ca ngất ngưởng vì kể về mình nên các từ ngữ gắn liền với những chiến công, cách sống của Nguyễn Công Trứ, đặc biệt là lối liệt kê: khi... khi...; lúc... lúc... Các từ ngữ đều thể hiện được cách nói ngông nghênh, bất cần khinh bạc của nhà thơ.
Còn trong Bài ca phong cảnh Hương Sơn do ngợi ca về vẻ đẹp của đất nước nên Chu Mạnh Trinh sử dụng cách nói so sánh, nhân hóa, góp phần khắc họa vẻ đẹp thiên nhiên. Tác giả đã dùng nhiều từ chỉ, trỏ kia ... này.... Sự khác nhau trong cách sử dụng từ ngữ đó chính là do sự khác nhau trong cảm xúc của hai bài thơ, đồng thời còn là do đặc điểm ngôn ngữ của từng cá nhân.

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây