Tình hình lúc ấy nửa suối, nửa hang đang vươn ra ánh sáng nhưng động lại phải rút ngay vào bí mật, nhìn trên toàn bộ thì hang vẫn là chính, bí mật vẫn là chính và vậy câu thơ phải khép lại băng tối vào hang [...].
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.
Cuộc sống cụ thể hồi ấy của Bác có biết bao nhiêu chi tiết gian khổ. Nhưng Bác đã bỏ qua, coi gian khổ nhẹ tênh, gian khổ nhẹ nhàng, nhịp nhàng với cảnh sinh hoạt, nhịp lúc đó [...]. Ba chữ vẫn sẵn sàng có người giải thích rau cháo vẫn đầy đủ, có người giải thích khác đi, tinh thần vẫn sẵn sàng rau măng cháo bẹ, câu thơ nói lên tinh thần lạc quan của Bác.
Tôi đã về Pác Bó, không có tấm đá nào như bàn cả, chỉ có tấm lòng vững như bàn thạch của người cách mạng đã nhìn ra bàn. Tình thế trong nước, trên thế giới lúc ấy khá chông chênh. Nhưng chông chênh gì thì chông chênh, dựa trên tình hình cách mạng, tấm lòng cách mạng lúc ấy, Bác vẫn tiến hành sáng tạo ra lịch sử. Dịch là một chữ khiêm tốn của Bác đấy thôi, Bác đâu chỉ có dịch, Bác đang viết lịch sử Việt Nam, cả sử thế giới bằng thơ lục bát dân tộc.
Bài thơ Tức cảnh Pác Bó được viết trong hoàn cảnh lúc Bác đang hoạt động bí mật trong điều kiện thiếu thốn đủ thứ, Bác phải ngủ trong hang đá, phải dùng phiến đá làm bàn, thức ăn rất thiếu thốn, gạo không có phải thường ăn cháo bẹ với rau măng. Bác bị sốt rét liên miên, nhưng Bác rất vui - cái vui của người đem ánh sáng cách mạng về để giải phóng dân tộc, “gây dựng một sơn hà”.
Mở đầu bài thơ là câu thơ có giọng điệu rất tự nhiên, rất ung dung thoải mái:
Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Câu thơ là sự khái quát của một cuộc sống đã thành nếp, rất chủ động. Cách ngắt nhịp 4/3 đã tạo thành thế đối: sáng ra - tối vào. Nếp sống ở đây chủ động và đàng hoàng. Đàng hoàng vì ban ngày Bác làm việc bình thường, tối mới trở về hang để ngủ. Với Bác, còn gì thú vị hơn khi ngày ngày được làm việc bên bờ suối, làm bạn với thiên nhiên tối mới trở về nhà (hang núi) để nghỉ ngơi và lắng nghe tiếng suối mà có lần ta bắt gặp trong thơ Bác. Chính sự cân đối ở câu thơ thứ nhất đã làm nền cho câu thơ thứ hai xuất hiện:
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.
Nhịp 4/3 là nhịp thông thường trong thơ tứ tuyệt, nhưng ở câu thơ này chuyển thành 2/2 tạo thành một sự đều đặn cùng với hai thanh trắc liền nhau ở nhịp 3 càng khẳng định thêm điều đó. Câu thơ toát lên một sự yên tâm về cuộc sống vật chất của Bác. Thơ xưa thường biểu lộ cái vui vì cảnh nghèo [...], câu thơ thứ 3 là một sự chuyển biến đột ngột:
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Hai câu nói về chuyện ở, chuyện ăn thong dong bao nhiêu thoải mái bao nhiêu thì câu nói về chuyện làm việc vất vả bấy nhiêu. Không có bàn người chiến sĩ cách mạng phải dùng đá làm bàn, lại là “bàn đá chông chênh” với từ láy chông chênh, Bác đã lột tả được điều kiện làm việc rất khó khăn. Công việc càng khó khăn hơn khi đòi hỏi người chiến sĩ cách mạng phải cố gắng hết sức không ngừng không nghỉ. Ba tiếng cuối câu sử dụng toàn thanh trắc thể hiện sự vất vả nhưng khoẻ khoắn, cương quyết. Như vậy đối với Bác lúc này, việc cách mạng là cần thiết nhất, phải vượt lên trên tất cả mọi khó khăn. Kết thúc bài thơ là một nhận xét bất ngờ thú vị:
Cuộc đời cách mạng thật là sang.
Câu thơ thứ tư là một sự đánh giá bất ngờ và bằng phép loại suy ta có thể khẳng định việc ăn, việc ở không phải là sang, chỉ có việc “dịch sử Đảng” là sang nhất vì nó đem lại cơm no áo ấm và hạnh phúc cho toàn dân. Giọng thơ sảng khoái ngân vang nhờ sử dụng hai thanh bằng ở cuối câu.