© 2020 Bài Kiểm Tra.com. All Rights Reserved.
Loading...

Soạn văn 11. Đọc văn: Lẽ ghét thương - Trích truyện Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu

Thứ sáu - 03/01/2020 10:06
Hướng dẫn soạn Ngữ văn 11. Đọc văn: Lẽ ghét thương - Trích truyện Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu, trả lời các câu hỏi và bài tập:
Câu hỏi 1. Anh (chị) hãy đọc các chú thích xem có điểm chung nào giữa các đời vua mà ông Quán ghét và giữa những con người mà ông Quán thương. Từ đó hãy nhận xét về cơ sở của lẽ ghét thương theo quan điểm đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu.
Câu hỏi 2: Anh (chị) có nhận xét gì về cách dùng phép đối và phép điệu ở cặp từ ghét, thương trong đoạn thơ này? Tìm hiểu giá trị nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.
Bài tập. Theo anh (chị), câu thơ nào trong đoạn trích có thể thâu tóm toàn bộ nghĩa tư tưởng và tình cảm của cả đoạn? Hãy viết đoạn văn bình giảng câu thơ đó.
Loading...
ĐỌC VĂN: LẼ GHÉT THƯƠNG
(Trích Truyện Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu)
 
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Nắm được những nét cơ bản về cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu.
2. Nhận thức được tình cảm yêu ghét của tác giả, có ý thức về những tình cảm này trong cuộc sống.
3. Hiểu được đặc trưng bút pháp trữ tình của Nguyễn Đình Chiểu.
B. NỘI DUNG BÀI HỌC
Nguyễn Đình Chiểu được xem là một nhà thơ tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam. Trong số những sáng tác của ông, Lục Vân Tiên là một tác phẩm được nhiều người yêu thích không chỉ trong thời đại ông mà còn được yêu thích trong mọi thời đại. Ở đó chứa những bài học đạo lí về lối sống, cách sống. Lẽ ghét thương là một trong những đoạn trích tiêu biểu cho điều đó.
I. ĐỌC VÀ TÌM HIỂU TIỂU DẪN
HS đọc và tóm tắt mục Tiểu dẫn
Gợi ý tóm tắt:
– Ý nghĩa của truyện: Câu chuyên xoay xung quanh cuộc xung đột giữa cái thiện và cái ác, nhằm đề cao tinh thần nhân nghĩa, thể hiện khát vọng lí tưởng của tác giả và của nhân dân về một xã hội tốt đẹp.
– Giới thiệu nhân vật chính trong đoạn trích: Ông Quán là nhân vật phụ trong tác phẩm, nhưng là nhân vật biểu tượng cho tình cảm yêu ghét phân minh, trong sáng của nhân dân.
– Vị trí đoạn trích: đây là đoạn thuộc phần đầu, từ câu 479 – 504 trong số 2082 câu thơ trong Truyện Lục Vân Tiên.

II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
HS đọc đoạn thơ, chú ý đọc có cảm xúc phù hợp.

III. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI
Câu hỏi 1. Anh (chị) hãy đọc các chú thích xem có điểm chung nào giữa các đời vua mà ông Quán ghét và giữa những con người mà ông Quán thương. Từ đó hãy nhận xét về cơ sở của lẽ ghét thương theo quan điểm đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu.
Những đời vua mà ông Quán ghét:
– Thoạt đầu ông Quán nói về “lẽ ghét” và kẻ đáng ghét nhất là những vua chúa đã bày ra “việc tầm phào”, như: việc “Kiệt, Trụ mê dâm”. Vua Kiệt, vị vua cuối cùng của nhà Hạ, say mê Muội Hỉ đã phá tan của cải trong kho, xây Dao Đài (đài bằng Ngọc), cung Trường Dạ, trang hoàng ngọc ngà châu báu, làm nơi ăn chơi hưởng lạc. Lại thả hổ báo ra chợ vồ dân lành để mua vui.
– Trụ là vua cuối cùng của nhà Thương. Nghe theo lời Đát Kỉ, người đàn bà đẹp nhưng điêu ác, vua Trụ cho đào ao đổ rượu xuống làm “tửu trì” (ao rượu), lấy chả thịt treo lên cây làm “nhục lâm” (rừng thịt), bắt hàng trăm trai gái khoả thân làm trò dâm loạn giữa chốn “ao rượu rừng thịt” đó, để cùng Đát Kỉ xem chơi.
– Hoặc việc U Vương “đa đoan” tìm cách để Bao Tự cười. Bao Tự vốn là đứa con gái bị bỏ rơi, người ta nhặt được, nuôi lớn rồi tiến cho u Vương, tên vua nổi tiếng hiếu sắc ở cuối thời Tây Chu. Từ ngày được lập làm chánh cung thay Khương Hậu bị phế, Bao Tự vẫn u sầu, chẳng cười bao giờ. Thấy Bao Tự nói tiếng xé lụa sàn sạt nghe cũng vui tai, u Vương truyền cho quan coi kho mỗi ngày phải đem vào kho một trăm tấn lụa, rồi sai các cung nữ có sức khoẻ đứng xé lụa để Bao Tự nghe. Tuy vậy, Bao Tự vẫn không cười. Để làm kì được Bao Tự cười, Ư Vương cho đốt lửa ở hoả đài, thúc trống lớn như để báo hiệu kinh đô bị uy hiếp. Các nước chư hầu thấy lửa cháy rực trời, tiếng trống ầm ầm như sấm vội mang binh mã đến cứu. Đến nơi thì chỉ thấy u Vương đang cùng Bao Tự ngồi trên đài cao, yến tiệc linh đình. Nhìn cảnh quan tướng các nơi tất cả kéo đến rồi lại chưng hửng ra về, Bao Tự vỗ tay thích chí cả cười.
– Còn như Ngũ Bá, năm lãnh chúa của năm nước chư hầu cuối thời Xuân thu “chuộng bề dối trá” sát phạt nhau để giành ngôi bá chủ, hoặc việc vua và các lãnh chúa ở cuối đời Đường (Thúc Quý) “sớm đầu tối đánh”, hỗn chiến liên miên, tuy về hình thức có khác việc “Kiệt, Trụ mê dâm” hay “Ư, Lệ đa đoan”, nhưng theo cách nhìn của ông Quán, thực chất vẫn chỉ là “việc tầm phào”. Các vua chúa mà ông quán dẫn trong đoạn trích không nghĩ gì đến chính sự đang nát bét, chẳng chút quan tâm đến đời sống của dân, chỉ mải mê bày ra những việc chơi nhảm nhí, vô bổ. Đây là một ví dụ nhỏ: được tin báo núi Kì Sơn sụt lở, nhà cửa bị sụp đổ, dân chúng bị vùi rất nhiều, u Vương chẳng hề để ý, vì còn bận tâm tìm con gái đẹp để tuyển vào cung.
Qua lời ông Quán, có thể thấy tác giả đã đứng hẳn về phía nhân dân bị áp bức mà lên án bọn vua chúa bạo ngược.

Những người mà ông Quán thương:
– Trong phần nói về “lẽ thương”, ông Quán toàn dẫn chuyện những bậc hiền tài phải chịu số phận lận đận, ước nguyện giúp đời không thành. Khổng Tử bôn ba khắp chốn, luôn luôn hi vọng có dịp thực hiện hoài bão cứu đời, nhưng đến đâu cũng không được tin dùng, mấy lần còn suýt bị hãm hại, như lần đi qua ấp Khuông, trên đường rời nước Vệ sang nước khác.
– Nhan Uyên có đức có tài, nhưng mệnh yểu, công danh lỡ dở. Gia Cát Lượng tận tuỵ, nhưng “gặp cơn Hán mạt”, sự nghiệp rút cuộc không thành, “tài lành” uổng phí.
– Đào Uyên Minh tưởng có thể thông qua con đường làm quan để thực hiện hoài bão “cứu giúp dân đen” nhưng lại thấy không thể thoả hiệp với một vương triểu thối nát, nên ở giữa tuổi tráng niên cũng đành từ bỏ công danh về nhà, tự cày lấy ruộng mà ăn.
– Hàn Dũ bị giáng chức và bị đày đi xa chỉ vì đã dám dâng biểu can vị vua quá sùng tín đạo Phật “dễ làm mê hoặc dân chúng”. Ba thầy trò Liêm, Lạc, tuy chỉ làm chức quan nhỏ, nhưng rồi cũng bị “xua đuổi”.
Bấy nhiêu con người, mỗi người một nét, nhưng nhìn chung đều là tri thức nho sĩ, ngay thẳng, trong sạch, ôm ấp mộng tưởng cứu đời, nhưng vì không gặp vận, gặp thời, nên chẳng có điểu kiện thi thố tài năng, rốt cuộc ước nguyện không thành. Cảnh ngộ của Nguyễn Đình Chiểu khi viết Truyện Lục Vân Tiên ít nhiều cũng có nét giống những nhân vật lịch sử mà ông Quán đã dẫn trong đoạn trích. Là một nho sĩ, Nguyễn Đình Chiểu cũng từng mơ ước “lập thân” để “trả nợ nước non”, nhưng ngay từ thuở mới bước chân vào đời đã gặp bao nỗi bất hạnh, đau đớn. Cho nên niềm thương những bậc hiền tài kia có một phần là thương mình.

Câu hỏi 2: Anh (chị) có nhận xét gì về cách dùng phép đối và phép điệu ở cặp từ ghét, thương trong đoạn thơ này? Tìm hiểu giá trị nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.
Để thể hiện lẽ ghét thương của mình, nhà thơ đã có dụng ý khi dùng phép đối và phép điệp ở các cặp từ ghét, thương. Điệp từ ghét được lặp lại 8 lần trong đoạn thơ nhằm mục đích nhấn mạnh đến sự sâu sắc và mãnh liệt của tình cảm. Đó là thái độ phủ định của ông Quán, đồng thời cũng là của Nguyễn Đình Chiểu đối với những loại người này trong xã hội. Điệp từ thương được lặp lại 8 lần trong đoạn thơ mục đích cũng là nhấn mạnh đến thái độ đồng cảm sâu sắc của ông Quán đối với những người có tài nhưng lận đận và không được xã hội trọng dụng.
Như vậy, lối dùng điệp từ dồn dập, từ ghét được lặp đến tám lần ở mười câu liền nhau, từ thương cũng 8 lần như thế ở mười bốn câu, rất có hiệu quả trong việc diễn đạt thái độ ghét thương dứt khoát, mãnh liệt của tác giả. Tất cả những điều ghét thương trong cuộc sống thường xuyên dội vào tâm tư Đồ Chiểu, con người nặng tình với dân, với đời, từng làm ông hằng phải xót xa. Cho nên nói chuyện đạo lí, dẫn từ kinh sử mà giọng lại không cầm được buồn giận, đắng cay. Nhiều chữ dùng 40 tuy mộc mạc, nhưng đầy sức mạnh và giàu cảm xúc, tưởng như còn nóng hổi hơi thở của cuộc sống như: ghét cay ghét dắng, SCI hầm xẩy hang, lằng nhằng rối dân, phui pha, ngùi ngùi….

Câu hỏi 3. Dựa vào cảm xúc của tác giả, hãy giải thích câu thơ ở phần đầu đoạn trích: “Vì chưng hay ghét cùng là hay thương”.
Câu thơ mở đầu đoan trích đã thể hiện được cảm xúc của cả đoạn thơ:
Vì chưng hay ghét cũng là hay thương.
Chưng dịch chữ “ư” tiếng Hán, có nghĩa là ở, tại. “Vì chưng” (từ cổ) còn được hiểu là “phải chăng”. Thương: cảm thấy xót xa, đau đớn trước cảnh khổ của người khác. Câu này ý nói: biết ghét là tại vì biết thương. Căn nguyên của sự ghét là lòng thương. Có thương dân mới biết ghét kẻ làm hại dân. Có bán chép khác:
– Vì chưng hay ghét bài là hay thương.
– Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương
Như vậy, tình cam ghét thương tưởng như đối lập với nhau nhưng lại có mối quan hệ khăng khít: V? chưng hay ghét cũng là hay thương. Ông Quán là người phát ngôn cho tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Đình Chiểu.

HS đọc ghi nhớ và nắm những kiến thức chính.

IV. LUYỆN TẬP
Bài tập. Theo anh (chị), câu thơ nào trong đoạn trích có thể thâu tóm toàn bộ nghĩa tư tưởng và tình cảm của cả đoạn? Hãy viết đoạn văn bình giảng câu thơ đó.
Lẽ ghét thương là một trong những đoạn trích thể hiện được cảm xúc chung của Truyện Lục Vân Tiên. Đoạn trích chỉ gồm 32 câu thơ, được dựa trên lời phát biểu của ông Quán, một nhân vật trong tác phẩm. Cả đoạn thơ, câu thơ nào cũng trực tiếp hay gián tiếp bộc lộ quan điểm của ông Quán về lẽ ghét thương. Tuy nhiên, câu thơ hay nhất, thâu tóm được ý nghĩa tư tưởng và tình cám của đoạn thơ chính là:
Vì chưng hay ghét cũng là hay thương.
Biết ghét là tại vì biết thương. Căn nguyên của sự ghét là lòng thương. Đây là hai tình cảm dối lập nhưng thực chất là sự thống nhất, bổ sung và hỗ trợ cho nhau trong những con người chính trực, biết yêu và biết ghét mãnh liệt.

V. TỔNG KẾT
Mặc dù chi có 32 câu thơ nhưng đoạn trích đã thể hiện được một phần tư tưởng chung của Truyện Lục Vàn Tiên. Mượn lời của ông Quán, nhà văn đã thể hiện được quan điểm đạo đức của mình về lẽ “ghét thương”. Nội dung đoạn thơ mang tính triết lí nhưng vẫn dào dạt cảm xúc.
Loading...

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây