a. Hướng dẫn tìm hiểu
Đọc 12 câu thơ đầu: “Cho gươm... Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa” và các chú thích trong sách giáo khoa để hiểu nghĩa của từ, nhất là các từ Hán Việt. Cách nói của Thuý Kiều với Thúc Sinh có gì đặc biệt? Từ ngữ xưng hô, giọng điệu, cách trả ơn là những chi tiết cần đặc biệt chú ý trong đoạn trích này.
b. Gợi ý trả lời
Sau lần trốn cùng sở Khanh không thành, Kiều bị Tú Bà bắt vào lầu xanh một lần nữa. Trong những ngày tháng sống với nỗi tủi cực của “kẻ thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” Kiều đã “may mắn” gặp Thúc Sinh “cũng nòi thư hương” - con rể của quan Thượng thư, một người phong tình “quen thói bốc giời”. Lúc đầu cũng chỉ là “trăng gió” nhưng về sau tình nghĩa ngày càng nặng sâu, Thuý Kiều và Thúc Sinh trở thành “đá vàng”. Thúc Sinh đã chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh và lấy làm vợ lẽ: “Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai”. Kiều đã được sống những ngày tháng êm đềm của tình nghĩa vợ chồng. Mặc dù sau này có chuyện đánh ghen, bị làm nhục nhưng Thúc Sinh trong khả năng có thể của mình đã xin Hoạn Thư cho Kiều ra Quan Âm các “giữ chùa, chép kinh”, thoát khỏi kiếp tôi đòi. Tuy Thúc Sinh là một nam nhi mà “thấp cơ thua trí đàn bà” y nhu nhược và sợ vợ, nhưng tình cảm với Thuý Kiều trong tấn bi kịch “tay ba” này vẫn nặng lòng. Người đọc có thể chê trách, phán xét Thúc Sinh nhưng với Kiều, chàng vẫn là một ân nhân cứu nàng ra khỏi kiếp trầm luân của cuộc đời kĩ nữ và giúp Kiều hoàn lương. Chính vì vậy, sau khi trở thành một phu nhân danh giá, Kiều đã tìm cách báo đáp các ân nhân, trong đó có cả Thúc Sinh.
Cảnh báo ân diễn ra rất oai nghiêm với gươm giáo, thị vệ làm cho Thúc Sinh cũng phải “mặt như chàm đổ mình dường dẽ run”. Đó là hành động rất phù hợp với tính cách nhu nhược của Thúc Sinh. Song, vẫn không một lời trách móc, oán giận chàng. Hơn thế nữa, Thuý Kiều đã làm người đọc bất ngờ trong việc trả ơn. Ở địa vị cao sang của mình. Kiều đã dùng một chữ “mời” rất trọng vọng dành cho ân nhân của mình.
Trong lời nói, Kiều luôn nhắc tới “nghĩa”, “lòng” và những đạo lí tốt đẹp thủy chung. Trước sau với Kiều, Thúc Sinh vẫn là “cố nhân”, nàng trân trọng tấm lòng yêu thương và sự giúp đỡ của Thúc Sinh dã dành cho mình trong cơn hoạn nạn, “đâu dám phụ lòng”. Bởi dù sao Thúc Sinh cũng đã từng cứu nàng ra khỏi chốn lầu xanh, thoát sự hành hạ của Tú Bà độc ác và cho nàng những ngày tháng êm đềm của cuộc sống gia đình. Cách gọi của Kiều với Thúc Sinh hết sức thân mật, gần gũi, tri ân: “người cũ, cố nhân”. Với một người trọng nhân nghĩa như Kiều thì tấm chân tình của Thúc Sinh cũng có thể coi là “nghĩa trọng nghìn non”.
Mặc dù vì gắn bó với Thúc Sinh mà Thuý Kiều lại thêm một lần đau khổ với thân phận làm lẽ của kẻ tôi đòi, phải chịu bao đắng cay, tủi nhục dưới sự hành hạ của Hoạn Thư nhưng Kiều hiểu hơn ai hết hoàn cảnh “khó xử” của Thúc Sinh. Với người vợ đanh đá, chua ngoa, ghen tuông như Hoạn Thư, một người chồng vô ơn nhu nhược như Thúc Sinh cũng chẳng “sung sướng” gì khi “cố tình” gắn bó với Kiều. Chính vì vậy Kiều hiểu rằng dù có trả ơn bằng cách nào cũng không thể xứng với “ân sâu nghĩa nặng” của chàng. Thuý Kiều cũng chỉ biết dùng một lễ vật khá “hậu”: “gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” để báo đáp, khẳng định cái nghĩa đối vối cố nhân trong những năm tháng ở Lâm Tri ấy. Trong đoạn này có sử dụng nhiều từ Hán Việt: “nghĩa nặng nghìn non”, “cố nhân”, “chữ tòng” làm cho lời nói của Kiều thêm trang trọng. Ngôn ngữ ấy cùng với một giọng điệu ôn tồn là phù hợp với chàng Thúc và thể hiện tấm lòng trân trọng của Thuý Kiều đối với ơn nghĩa của người chồng cũ.
Dù tri ân tấm lòng của Thúc Sinh, nhưng nhắc đến “vợ chàng”, Kiều vẫn tỏ thái độ gay gắt.
Bao nhiêu năm trôi qua, vết thương lòng của Kiều như vẫn chưa thể lành, bởi “miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”. Dù đã qua rồi ngày tháng tủi nhục của kiếp tôi đòi nhưng làm sao Kiều có thể quên được những đau đớn về thể xác, nhục nhã về tâm hồn do cơn ghen thịnh nộ của Hoạn Thư. Điều đó chứng tỏ ở Kiều yêu ghét rất rạch ròi và nàng luôn nhận thức được ai là kẻ đã đẩy nàng vào nỗi đau đớn ê chề trong những tháng ngày vừa qua. Nếu như với Thúc Sinh, lời lẽ nhẹ nhàng, bày tỏ tri ân tri nghĩa thì khi nhắc đến Hoạn Thư, tâm trạng Kiều đã thay đổi hẳn, ngôn từ trở nên sắc sảo. Với Kiều, Hoạn Thư là “quỷ quái tinh ma”, tất gặp báo oán “kẻ cắp bà già gặp nhau” không thể tha thứ, bỏ qua được.
Chỉ trong một đoạn văn ngắn, một khung cảnh, nói với một con người mà Thuý Kiều sử dụng hai loại ngôn ngữ, giọng điệu khác nhau: trang trọng, ôn tồn khi nói về Thúc Sinh và chì chiết khi nhắc đến Hoạn Thư. Điều đó cho thấy sự tinh tế, sắc sảo của ngòi bút Nguyễn Du khi miêu tả tâm lí nhân vật.