Có thể phân tích bài thơ Ngắm trăng ở hai điểm:
a) Bản chất chiến sĩ lồng trong hình ảnh của thi sĩ.
Nổi bật lên là một tâm hồn thi sĩ dạt dào hứng khởi trước ánh trăng đẹp. Ánh trăng là mô típ trữ tình tiêu biểu của thơ ca phương Đông: phong, hoa, tuyết, nguyệt; cầm, kì, thi, tửu.
Trăng đẹp cảm hứng thơ bốc cao, tiếc không có hoa và rượu cho cảm hứng được trọn vẹn. Câu một và hai tiếp theo nhau biểu hiện tâm trạng đó.
Hai câu thơ sau: đôi bạn tri kỉ, cái duyên văn chương từ lâu đã gắn bó vầng trăng với nhà thơ, bất chấp cả ngục tù. Có chất say và chất mộng: vầng trăng có linh hồn, có nét mặt, có ánh mắt.
Nhưng thực chất lại là chất thép, chất chiến sĩ. Đặt trong hoàn cảnh cụ thể của người làm thơ (cùm xích, ghẻ lở, muỗi rệp...) mới thấy việc có được cảm hứng thơ là thép rồi. Mà thép già, thép không già lắm thì chắc trong trường hợp này sẽ thể hiện là thép. Thép già mới thể hiện là thơ... ung dung, tự tại, hoàn toàn đứng trên gian khổ thanh thoát như không.
b) Một tâm hồn bao giờ cũng hướng ra ánh sáng.
Từ bóng tối nhà lao (hiểu theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) tâm hồn Bác hướng ra ánh sáng. Dĩ nhiên có ánh trăng gọi Bác thì ánh trăng vẫn cứ ở bên ngoài và nhà tù vẫn cứ tối tăm. Bác đã đưa ánh sáng toả sáng vào trong nhà tù. Một bài thơ đầy ánh sáng làm trong nhà tù đen tối nhất.